KHU NUÔI GÀ VÀ GIA CẦM KHÁC

Mục tiêu: Phát triển  04 khu chăn nuôi  thực xanh cho gà và gia cầm khác (vịt và bồ câu) - đạt mức tiệm cận hoặc tương đồng với  các mô hình chăn nuôi hữu cơ chuẩn ở các nội dung quan trọng,  trong đó:

- 02 khu nuôi thả tự nhiên trong đồi rừng sinh tháiGia cầm nuôi thả hoàn toàn, tự tìm phần lớn thức ăn từ hệ sinh thái tự nhiên,  chỉ  bổ sung  một phần nhỏ hạt ngũ cốc (hình thức nuôi  có rủi ro cao hơn  về dịch bệnh và hao hụt nên chỉ thích hợp  cho những khu sinh thái đặc biệt)

- 02 khu  khoanh nuôi trong đồi, rừng sinh thái (bán chăn thả) : Gia cầm bán chăn thả phụ thuộc phần lnhiều hơn vào thức ăn xanh do con người cung cấp bên cạnh phần thức ăn gia cầm tự tìm được từ hệ sinh thái tự nhiên (hình thức chăn nuôi dễ quản lý và  ít rủi ro hơn nuôi thả tự nhiên).

I. MỘT SỐ LOẠI HÌNH NUÔI GÀ TA HƯỚNG "XANH"  HIỆN NAY

Chăn nuôi gà ta trước đây chủ yếu được tiến hành với hình thức nuôi thả tự nhiên trên vườn, đồi... với không gian rất rộng. Gà được tự do chạy nhảy và tìm nguồn thức ăn ngoài thiên nhiên với hệ sinh vật nền phong phú, cho chất lượng thịt tốt với hàm lượng dinh dưỡng cân bằng.

Ngày nay, khái niệm "gà thả vườn" đã có nhiều thay đổi do sự hạn chế quỹ đất cùng các vấn đề về quy hoạch (kể cả ở các vùng nông thôn), các rủi ro dịch bệnh từ sự phát triển của các hoạt động giao thương, ô nhiễm môi trường, và áp lực từ nhu cầu sản lượng tiêu thụ ngày càng tăng của xã hội. Ở nhiều mô hình gà ta "thả vườn, thả đồi" hiện nay chủ yếu là  hình thức bán chăn thả  trong vườn, đồi với mật độ lớn, có lưới quây, tường bao và với thức ăn, nước uống được cung cấp đầy đủ. Điều này còn nhằm để tăng sản lượng và tính kinh tế trên một đơn vị diện tích chăn nuôi thương phẩm.  Việc thả "vườn" chủ yếu là để gà có một không gian vận động nhất định còn lượng thức ăn tự nhiên do gà tìm được từ "vườn"  là không có hoặc không đáng kể do mật độ nuôi thường vượt rất xa khả năng cung cấp của hệ sinh vật nền trong phần diện tích được quây. Hơn nữa, tại nhiều cơ sở chăn nuôi, các lứa nuôi lại thường được gối đầu liên tục nên các loại sinh vật tự nhiên (cây cỏ, côn trùng...) là thức ăn cho gà trong "vườn" không có khả năng phục hồi kịp -còn gọi là vườn "trắng mồi".

Ở nhiều nơi, gà thả vườn cho dù vẫn sử dụng thức ăn tổng hợp (cám công nghiệp) là chủ yếu nhưng để đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng về độ "dai, chắc" của mô thịt, các giống gà  đã qua lai tạo với các loại gà cho thịt dai chắc  như gà nòi, gà chọi,  gà H'mông xương đen ... sẽ được nuôi bên cạnh một số biện pháp khác như giảm tương đối mất độ nuôi (tăng không gian vận động), kéo dài thời gian nuôi...

OGAF không quây nuôi trên nền vườn "trắng"  (không có lớp phủ thưc vật) và  phải phụ thuộc
vào  thức ăn công nghiệp  - mô hình phổ biến hiện nay. .

Do cơ thể gia cầm là rất nhạy cảm với các tác nhân bất lợi từ ngoại cảnh (thời tiết, mầm bệnh) lại ở trong vườn quây nuôi mật độ cao nên nếu không có quy trình chăn nuôi khoa học gà thả vườn sẽ thường xuyên mắc bệnh và  phải sử dụng các loại thuốc thú y (bao gồm nhiều loại kháng sinh) - một thực tế thường xảy ra.

Hiện nay, các quy trình chăn nuôi theo GAP/GAHP (VietGAP/Global GAP) vẫn chấp nhận cho phép  sử dụng thức ăn và chế phẩm bổ sung dinh dưỡng công nghiệp cũng như  thuốc thú y  đặt dưới sự kiểm soát. Các quy trình này được phát triển nhằm phù hợp hơn với các đặc điểm về chăn nuôi  cho sản lượng cao đáp ứng nhu  cầu tiêu thụ lớn của xã hội. Khái niệm SẠCH của GAP do đó mang nhiều hơn ý nghĩa "kiểm soát"  ở mức chấp nhận  nhằm cân bằng với nhu cầu  SẢN LƯỢNG cần đạt.

Một số mô hình chăn nuôi gà hướng xanh, hướng hữu cơ đã bắt đầu có những nỗ lực  nhằm nâng cao hơn nữa tính an toàn, tính xanh của các mô hình GAP cũng như đem  chất lượng con gà ta về gần hơn với chất lượng  được biết tới từ bao đời của người dân Việt thông qua một số giải pháp chăn nuôi xanh như: thay thế thức ăn công nghiệp bằng một số loại  thức ăn tự nhiên, cải thiện điều kiện nuôi nhốt... Tuy nhiên,  các nỗ lực này trên thực tế  vẫn còn nhiều hạn chế do các bất cập về điều kiện tự nhiên, kiến thức chuyên môn cũng như các áp lực về sản lượng thương mại .

(Đối với vật nuôi là vịt và chim bồ câu thương phẩm cũng có nhiều nét tương tự)

Trong khuôn khổ chương trình , OGAF phát triển chăn nuôi theo hình thức (1) thả vườn đồi (có giới hạn diện tích còn gọi là bán chăn thả) và (2) là nuôi thả tự nhiên (không giới hạn diện tích) để thực hành   các tiếp cận xanh trong chăn nuôi gia cầm hướng hữu cơ, cận hữu cơ.

II.THỰC HÀNH CHĂN NUÔI GÀ TRONG CÁC KHU CHĂN NUÔI THỰC XANH - OGAF

[Tham khảo chi tiết về các yêu cầu chính cho chăn nuôi của OGAF tại đây]

a) Địa điểm và chất lượng môi trường sinh thái của khu nuôi

Lựa chọn, phát triển  2 khu chăn nuôi thuộc vùng phụ cận núi Tản và  vùng ven rừng Quốc Gia Xuân Sơn, Phú Thọ  có chất lượng môi trường tốt, hệ sinh vật nền (thực vật, côn trùng và động vật thân mềm) đa dạng, không có lịch sử canh tác với thuốc diệt cỏ, thuốc bảo vệ thực vật,  biệt lập với các hoạt động giao thương và các khu chăn nuôi tập trung các khu đông dân cư.

- Khu nuôi thả tự nhiên (01 tiểu khu): có diện tích đồi rừng lớn với  hệ sinh vật nền phong phú, nhiều cỏ và cây thân thảo  thấp có thể làm thức ăn trực tiếp cho gia cầm cũng như cho các loại côn trùng hay động vật thân mềm (châu chấu, cào cào, mối, dế, giun...) - đây là nguồn thức ăn giàu đạm và khoáng chất quý rất quan trọng cho gia cầm nuôi thả tự nhiên.  Để tăng khả năng dẫn dụ côn trùng, các hố dẫn dụ côn trùng  phủ thân lá thực vật cũng được tạo ra.


Khu nuôi thả tự nhiên cần cung cấp phần lớn thức ăn tự nhiên từ hệ sinh thái

- Khu nuôi kiểu  bán chăn thả  trong vườn  đồi (02 tiểu khu):  có diện tích đủ lớn để có thể phân thành các phần diện tích chăn nuôi luân phiên (không gối đầu liên tục các lứa gà trên cùng một phần diện tích- gây cạn kiệt thảm thưc vật  và dễ phát sinh dịch bệnh , dễ phải sử dụng các loại thuốc thú y). OGAF yêu cầu khu nuôi  cần đảm bảo có hệ sinh vật nền (cỏ và cây thân thảo phù hợp làm thức ăn xanh)  ở một mức độ  có sự  tương thích tốt nhất với mật độ  nuôi  bán chăn thả.

Gia cầm bán chăn thả  trong chăn nuôi thực xanh OGAF  được luân chuyển sang phần  diện tích vườn đồi  mới có thảm thực vật tươi tốt và giàu dinh dưỡng  hơn để thực phần diện tích cũ có thởi gian phục hồi cho chu kỳ sau

Cỏ và cây thân thảo cung cấp bổ sung nguồn thức ăn xanh giàu vitamin và chất xơ tự nhiên  cũng như tạo môi trường dẫn dụ  một số loại côn trùng làm thức ăn giàu protein cho gia cầm bán chăn thả  thuộc OGAF

b) Giống gà

Để  thích ứng tốt với điều kiện khí hậu (giảm nguy cơ dịch bệnh), tận dụng tốt nguồn thức ăn  tại địa phương, và cho chất lượng thịt  tốt, các giống gà được lựa chọn là các giống bản địa hoặc lai giữa các giống bản địa với nhau như: ri, ri lai mía, gà lạc thủy... Gà giống  luôn được  chủng ngừa đầy đủ.

c) Thức ăn  [Tham khảo các yêu cầu quan trọng đối với thức ăn chăn nuôi  cho OGAF tại đây]

Để thay thế thức ăn và các loại chế phẩm bổ sung dinh dưỡng  công nghiệp (premix, complex vitamin....), đảm bảo  tính xanh, tính hữu cơ cho  môi hình nuôi thức ăn cho gà và gia cầm  được OGAF sử dụng từ các nguồn sau:

+ Đối với gà nuôi thả tự nhiên:

Trồng thêm cây có đặc tính thu hút và tạo hố dẫn dụ côn trùng (cào cào, châu chấu, dế, mối...)  trong khu nuôi thả để tăng cường nguồn thức ăn hữu cơ giàu dinh dưỡng cho gia cầm

Do số lượng gia cầm thấp trên diện tích đồi rừng rất rộng với thảm thực vật đa dạng,  gà tự kiếm đủ nguồn thức ăn cung cấp protein (sâu bọ, côn trùng, giun...), vitamin và chất xơ (cỏ, rau, lá thực vật), và khoáng từ tự nhiên .  Các thức ăn này mang tính  xanh, tính hữu cơ rất cao, chứa nhiều nhóm dinh dưỡng quý.  Nguồn  thức ăn bổ sung thêm  là nhóm  cung cấp năng lượng như ngô, thóc hay sắn lát. Do nguồn hạt ngũ cốc từ các vùng trồng theo tiêu chuẩn hữu cơ là khan hiếm và có giá thành rất cao, OGAF chấp nhận các nguồn hạt từ quy trình canh tác an toàn (GAP)  trở lên, hoặc các quy trình canh tác hướng hữu cơ tại các vùng trồng đã được đánh giá chi tiết.

+ Đối với gà nuôi bán chăn  thả vườn/đồi

Phần thức ăn do con ngườic ung cấp sẽ nhiều hơn so với gà nuôi thả tự nhiên do   hệ sinh vật nền trong khu  khoanh nuôi  bán chăn thả chỉ cung cấp được một lượng hạn chế  hơn so với các khu nuôi thả tự nhiên có diện tích rất rộng.

Ngoài lượng thức ăn cung cấp năng lượng như ngô, thóc, sắn lát  từ các nguồn canh tác an toàn hoặc hướng  hữu cơ như đã nêu ở phần trên,  gà thả vườn còn  phải được cung cấp đủ thức ăn ở các nhóm chất dinh dưỡng khác như :

- protein:   Từ các ụ thân cành cây dẫn dụ mối và côn trùng, từ khu nuôi giun quế  bằng nguồn phân chăn nuôi gia súc và một số loại bã, phụ phẩm nông nghiệp. Một phần protein có thể được bổ sung từ nguồn tôm, tép  tươi đánh bắt từ các hồ đầm ven đồi (không sử dụng bột khô cá thương phẩm như trong các mô hình nuôi gà ta khác nhằm loại trừ khả năng nhiễm độc do nấm mốc và rủi ro phải điều trị bằng thuốc thú y)

-chất xơ và vitamin: từ  nguồn rau, cỏ mọc hoang và canh tác tại chỗ. Đảm bảo đủ  rau và thức ăn xanh để không cần bổ sung vitamin và chế phẩm bổ sung dinh dưỡng tổng hợp (công nghiệp) cho  gà.

- khoáng chất: chỉ sử dụng các loại khoáng tự nhiên như bột vỏ sò...

Phân và chất nền  nuôi giun quế  trong OGAF  phải từ các nguồn chăn nuôi hoặc trồng trọt  tại chỗ theo hướng hữu cơ. Không sử dụng phân  thu gom từ chăn nuôi công nghiệp hay từ các khu vực có rủi ro ô nhiễm.

 

d) Quản lý chăn nuôi và phòng ngừa dịch bệnh - thực hành chăn nuôi không kháng sinh

Các khu nuôi thả đều được đánh giá và lựa chọn kỹ  về chất lượng sinh thái học và khả năng cách ly các nguồn gây bệnh.

Gà cho  nuôi thả tự nhiên  hay quây nuôi trong vườn đồi đều  có  khu chuồng  đảm bảo ấm áp, kín gió vào mùa đông và thoáng mát vào mùa hè.  Mật độ nuôi  đảm bảo để  gà có đủ không gian vận động  (thả vườn) và tìm kiếm thức ăn  (nuôi thả tự nhiên) tránh vượt quá tải lượng sinh học của hệ thực vật nền.  Đây cũng là biện pháp đảm bảo  tốt hơn phúc lợi vật nuôi trong chăn nuôi hữu cơ và giúp gia súc nâng cao sức đề kháng tự nhiên.

Mầm bệnh và ký sinh trùng tồn tại ở hầu khắp mọi nơi.  Gà nuôi có hệ thống miễn dịch để đối phó với chúng. Tuy nhiên, hệ thống miễn dịch này sẽ bị nhiễu loạn nếu gà không được chăm sóc tốt, tâm lý thoải mái (tránh các stress).

Khỏe mạnh chính là trạng thái cân bằng giữa  áp lực bệnh tật và khả năng miễn  dịch của vật nuôi. Tiếp cận phòng ngừa trong chăn nuôi hữu cơ là cách để tác động tích cực đến  2 vế của sự cân bằng này: tiêu trừ mầm bệnh đồng thời tăng khả năng miễn dịch của vật nuôi.

+ Tiêu trừ mầm bệnh

Chuồng nuôi được vệ sinh sạch sẽ, khô ráo. Phân và thức ăn thừa được thu dọn, vệ sinh triệt để.  Một số khu nuôi với lót đệm sinh học phải được sử dụng chủng vi sinh thích hợp để đảm bảo ức chế được vi sinh vật gây bệnh dưới nền chuồng.

Giữ gìn vệ sinh tiểu khu chăn nuôi  và môi trường xung quanh (ngoài chuồng trại), cách ly với các hoạt động giao thương có độ rủi ro cao về lây nhiễm mầm bệnh liên vùng.  Các khu nuôi thả gia cầm thuộc OGAF nằm ở vùng đồi trung du hoặc ven rừng nên được cách ly tốt bởi các chướng ngại tự nhiên như khe suối,  vạt rừng hay các triền đồi dốc.

Luôn theo dõi sát sao, các cá thể gia cầm có biểu hiện ốm được cách ly  theo dõi ngay.

Hun khói , xông chuồng với một số loại thảo dược có tinh dầu như ngải cứu, bồ kết... nhằm  xua đuổi một số loại côn trùng truyền bệnh như dĩn, mạt,  muỗi, ruồi, ...

+ Nâng cao sức đề kháng (miễn dịch) cho gà

Thực hiện chế độ  chủng ngừa đầy đủ và khoa học .

Gà được tự do vận động  và thực hiện các tập tính vốn có như đào bới, tìm mồi, sưởi nắng... trong khu chăn nuôi rộng rãi với cây cỏ tự nhiên .  Hạn chế các tiếng động đột ngột, tiếng ồn kim khí , các hành động đuổi bắt gây căng thẳng.... Khu nuôi thả cũng có đủ tán che hoặc cây tạo bóng mát vào mùa nắng nóng.

Đảm bảo chhế độ dinh dưỡng đầy đủ và khoa học. Vào những dịp thay đổi thời tiết đột ngột, ngoài biện pháp che chắn hợp lý, chế độ dinh dưỡng được điều chỉnh linh hoạt như tăng thức ăn thô xanh giàu vitamin  tự nhiên vào mùa hè, thêm một số dược thảo  có công hiệu phòng bệnh trong mùa đông   nghệ, tỏi, hương thảo,  hương nhu...

Men vi sinh EM, probiotic lợi khuẩn đường ruột  được sử dụng một cách khoa học  để ủ các loại thức ăn giàu tinh bột (bột ngô, sắn) giúp  tăng cường hiệu quả tiêu hóa và ức chế các loại vi khuẩn có hại trong đường ruột của gà, giảm các bệnh về đường tiêu hóa.

e) Trị bệnh

Khi các biện pháp phòng ngừa kể trên được thực hiện tốt thì gia cầm  rất ít bị nhiễm bệnh.  Vì vậy điều trị thú y chỉ đóng vai trò thứ yếu trong chăn nuôi hữu cơ và  thực xanh cận hữu cơ .  Trường hợp  gà bị bệnh, OGAF chủ trương  cách ly ngay và chỉ sử dụng các loại  thuốc có nguồn gốc thảo dược hoặc các phương pháp truyền thống để chữa trị . Thảo dược được ưu tiên thu hái tại địa phương hoặc những nguồn có thể kiểm soát. Không sử dụng các loại thảo dược không rõ nguồn gốc được canh tác không an toàn hoặc bảo quản bằng hóa chất. Các loại thảo dược phải được sử dụng đúng đắn, không  lạm dụng gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe gia cầm. Một số loại thường được sử dụng như:

Nước tỏi ép (bệnh cúm, biếng ăn)

Tỏi, gừng, vỏ quế, tiêu, bột than(tụ huyết trùng);

Trắc bá diệp, hương nhu, ba chẽ, ké đầu ngựa ( hô hấp)

Lá trầu không, lá xoài,  lá lốt (bạch lỵ do salmonella pullorum)

Bồ kết xông  làm thoáng đường thở nhanh khỏi bệnh hô hấp

vv..

Trường hợp bệnh cảnh trở nên đặc biệt nặng và phương pháp sử dụng thảo dược thất bại, gia cầm phải được cách ly, loại khỏi đàn Chăn Nuôi Thực Xanh để xem xét sử dụng các biên pháp điều trị  khác hoặc tiêu hủy. Vật nuôi  khỏi bệnh do bắt buộc phải sử dụng kháng sinh không còn được coi là vật nuôi thực xanh và được loại ra theo đúng quy định.

Trong mọi trường hợp, nếu để xảy ra gà bệnh, khu chăn nuôi thuộc OGAF phải  xem xét, rà soát và báo cáo ngay các tồn tại đã được phát hiện cũng như giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự cố tương tự trong tương lai.

 

Một số  loại cây dược thảo hỗ trợ phòng và trị bệnh cho gia cầm nuôi hữu cơ

 

CÁC HIỂU LẦM THƯỜNG GẶP VỀ TÍNH HỮU CƠ, TÍNH AN TOÀN VÀ  CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ LOẠI THỊT

 

B. VỊT

Mô hình nuôi hướng hữu cơ gắn với tự nhiên (không nuôi nhốt trên cạn) cũng khá tương đồng với nguyên tắc dành cho gà. Trong đó, ngoài các nguyên tắc dinh dưỡng và quy trình quản lý chăm sóc sức khỏe, chất lượng môi trường tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng.
Điểm nuôi thuộc OGAF phải có diện tích mặt nước ( ao và suối ) chảy tự nhiên với hệ động thực vật thủy sinh phát triển tốt không chịu rủi ro bị nhiễm các loại thuốc trừ cỏ, thuốc bảo vệ thực vật như trên đồng canh tác lúa. Điểm nuôi cũng được cách ly tốt với các khu dân cư có hoạt động chăn nuôi lân cận. OGAF chọn 01 điểm nuôi tại vùng phụ cận rừng tại vườn Quốc Gia Xuân Sơn, Phú Thọ có đầy đủ các đặc điểm này.
Giống vịt được lựa chọn là vịt cỏ và vịt bản địa của Việt Nam có khả năng thích ứng tốt với điều kiện tự nhiên tại địa phương và khả năng tự tìm mồi tốt, một số lượng nhất định vịt trời cũng được nhân nuôi trong các khu.
Do có diện tích chăn thả rộng so với số lượng vật nuôi hạn chế nên vịt có thể tự kiếm đủ các nguồn chất xơ, khoáng và một phần lớn protein từ tự nhiên mà không sử dụng các chế phẩm premix công nghiệp (cung cấp vitamin, khoáng, chất điện giải...) như thường thấy ở các mô hình quây nuôi vịt hướng sạch phổ biến hiện nay. Phần thức ăn bổ sung chỉ bao gồm thóc ủ mầm, ngô, đậu từ các quy trình canh tác đạt yêu cầu cho chăn nuôi thực xanh.
Công tác thú y chủ yếu thực hiện theo tiếp cận phòng ngừa và cách ly tương tự như đối với khu chăn nuôi gà. Nâng cao sức đề kháng tự thân của mỗi cá thể, giảm thiểu mầm bệnh trong môi trường là các nguyên tắc chủ yếu.


Quần thể thực vật thủy sinh phong phú có tác dụng tốt trong đảm bảo chất lượng môi trường  và  cung cấp nguồn thức ăn bổ sung cho vịt nuôi  hữu cơ.

C. CHIM BỒ CÂU

Hình thức nuôi tự nhiên hướng hữu cơ cũng khá tương đồng với  nguyên tắc dành cho gà. Trong đó địa điểm bố trí chuồng nuôi và phạm vi vùng sinh thái cho chim  kiếm mồi phải rất xa khu dân cư, khu chăn nuôi các loại gia cầm khác.  OGAF chọn một điểm nuôi tự nhiên thuộc vùng ven rừng quốc gia Xuân Sơn, Phú thọ,  nơi có hệ sinh thái phù hợp.

Nuôi thả tự nhiên giúp giảm thiểu tối đa chi phí thức ăn do con người cung cấp. Mặc dù vậy, trong những hoàn cảnh thời tiết bất lợi (giá rét hay sương giăng).... chim sẽ được lưu lại ở khu chuồng để đảm bảo sức khỏe và tránh rủi ro bệnh tật. Llượng ngũ cốc bổ sung cho chim như ngô hạt hay thóc cũng đóng một vai trò quan trọng trong duy trì năng lượng và đảm bảo sức khỏe tốt cho bồ câu, đặc biệt là trong những thời gian phải lưu lại khu chuồng.

Mặc dù rất ít bệnh tật phát sinh so với bồ câu nuôi công nghiệp hay quây nhốt nhưng bồ câu nuôi tự nhiên tại những vùng sinh thái tốt cũng cần được theo dõi để kịp thời cách ly ngay khi có dấu hiệu ốm yếu.   Trong khai thác và ghép cặp, tránh để tình trạng  cận huyết ảnh hưởng tới  sức khỏe chim non. Vệ sinh tốt khu chuồng nuôi là một yêu cầu bắt buộc.

Bồ câu nuôi tại các khu  sinh thái biệt lập với  khu dân cư cũng giúp tăng tính hữu cơ do chim không  uống phải nước  thải sinh hoạt từ cống rãnh lộ thiên như nuôi trong các nông hộ đan xen.


Quần thể thực vật thủy sinh phong phú có tác dụng tốt trong đảm bảo chất lượng môi trường  và  cung cấp nguồn thức ăn bổ sung cho vịt nuôi  hữu cơ.