KHU NUÔI CÁ VÀ THỦY SẢN

Mục tiêu : Phát triển  02 khu  mặt nước tự nhiên nuôi cá hướng hữu cơ ở mức độ rất cao (cận hữu cơ) thông qua các thực hành xanh một cách toàn diện .

I. ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ LOẠI HÌNH  NUÔI  CÁ HƯỚNG "XANH" ĐÁNG CHÚ Ý HIỆN NAY

Phần lớn các loại cá nước ngọt  và một số loại cá nước lợ/mặn thông dụng và được ưa chuộng hiện nay như trắm đen, chép, điêu hồng, rô phi,  cá quả, cá lăng, chiên, vược, mú, song, chình.... đều đã được nhân nuôi   trong các hệ thống lồng, bè hoặc ao đầm tại các khu vực lòng hồ và cửa sông hay vùng ven biển . Một số loại cá hiếm, cá đặc sản, trước đây chỉ được tìm thấy trong tự nhiên (và hiện vẫn thường được giới thiệu với tiên gọi cá sông, cá đánh bắt tự nhiên tại các điểm kinh doanh, nhà hàng) thực tế phần lớn đều là cá nuôi tại các khu nuôi trồng.

Khác với  đa phần các suy nghĩ thông thường  cho rằng cá  nuôi  luôn "xanh"  và "sạch" hơn so với  các loại vật nuôi khác. Trong thực tế  hiện nay, quan điểm này không còn chính xác  do tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang diễn ra ở mức đáng báo động với  không chỉ  tác nhân ô nhiễm từ nguồn thải sinh hoạt mà còn từ sản xuất công nghiệp  tại các lưu vực sông suối, lòng hồ  và đầm, phá cửa sông, ven biển  .  Ngoài ra, do  đặt quá nặng yếu tố sản lượng, nhiều điểm nuôi  thường xuyên  phát sinh các loại bệnh và dó đó là nhu cầu cao đối với các loại thuốc thủy sản như thuốc kháng sinh , thuốc trị nấm da, nẫm vảy, sình bụng.... Các chế phẩm này hiện  rất phổ  biến  với giá thành rẻ,  hiệu quả trị bệnh nhanh  chóng  nên rất dễ bị lạm dụng trong nuôi thủy sản.

Các mô hình nuôi cá và thủy sản an toàn theo G.A.P (như VietGAP, GlobalGAP ) đã xuất hiện ở  nhiều nơi. Tuy nhiên, cac quy trình chăn nuôi này vẫn  chấp nhận sử dụng nhiều loại thuốc thủy sản, thuốc  kháng sinh (trong danh mục cho phép sử dụng ) và các loại thức ăn hay chế phẩm dinh dưỡng  tổng hợp công nghiệp.  Khái niệm SẠCH   của GAP do đó mang  ý nghĩa "kiểm soát" ở mức độ chấp nhận  nhằm cân bằng giữa tiêu chí SẠCH và tiêu chí SẢN LƯỢNG cao đáp ứng cho nhu cầu của xã hội.  Bên cạnh đó, tại nhiều vùng nuôi an vẫn có thể xảy ra các sự cố môi trường không mong muốn gây ô nhiễm nguồn nước  do các hoạt động công nghiệp, giao thông thủy, hay lũ lụt rửa trôi các tác nhân ô nhiễm từ nông nghiệp (thuốc bảo vệ thực vật, phân bón....).

Một số mô hình đã bắt đầu tổ chức nuôi theo hướng hữu cơ, tuy nhiên  thường  vẫn chỉ dừng lại ở một số giải pháp đơn lẻ như thay thế hoặc bổ sung một vài loại thức ăn xanh, hoặc  giải pháp phòng bệnh  đơn giản  mà không có điều kiện bao quát   được  nhiều yêu cầu khắt khe khác trong chăn nuôi hữu cơ. Do đó tính "hướng hữu cơ" vẫn còn rất khiêm tốn.  Vài mô hình đã thay thế được một phần nào đó thức ăn công nghiệp bằng thức ăn xanh có nguồn gốc tự nhiên nhưng vẫn phụ thuộc  vào thuốc kháng sinh trị bệnh , số khác lại có giải pháp giảm phụ thuộc thuốc thủy sản nhưng vẫn phụ thuộc chủ yếu vào thức ăn và chế phẩm dinh dưỡng công nghiệp...

II. THỰC HÀNH NUÔI CÁ TRONG CÁC KHU NUÔI TRỒNG THỰC XANH- OGAF

Với đặc điểm chương trình, OGAF  đã  phát triển hình thức  nuôi xanh   theo các nguyên tắc hữu cơ, trong đó tập trung vào bảo đảm thật tốt chất lượng nguồn nước, thay thế thức ăn tổng hợp (công nghiệp) băng các nguồn thức ăn xanh tự nhiên, thức ăn tại chỗ và thực hành quy trình nuôi không phụ thuộc kháng sinh và thuốc thủy sản. Đồng thời, hướng mô hình nuôi trở nên gần gũi với tự nhiên, hòa hợp, cân bằng với môi trường sinh thái [Tham khảo chi tiết về các nguyên tắc chính cho chăn nuôi của OGAF tại đây]

a) Địa điểm và chất lượng môi trường nước của khu nuôi

Chất lượng  môi trường nước đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với chất lượng  cá nuôi.  Bất kể quy trình nuôi sử dụng loại thức ăn nào, hình thức nuôi (ao, đầm, lồng..) và mật độ nuôi ra sao cá nuôi vẫn sẽ nhiễm bệnh dẫn tới rủi ro phải sử dụng các loại thuốc thủy sản để điều trị nếu môi trường nước không tốt (ô nhiễm, nhiều mầm bệnh...).

OGAF chủ yếu  lựa chọn hình thức nuôi  tại các khu hồ sinh thái  hoặc đầm nuôi  tự nhiên  có đặc điểm dễ dàng  lưu thông  dòng nước ra vào từ các nguồn bổ cập từ  sông, suối  cận rừng, núi do  chất lượng  môi trường các khu vực này thường  tốt hơn rất nhiêu trong  ao, đầm  kín. Nước  được bổ cập từ nguồn trong lành và luân chuyển liên tục (khác với đầm ao tù dễ xảy ra dịch bệnh do thức ăn thừa và lớp bùn cặn lưu cữu phát sinh các khí độc vào nước như NH3 và N02... ), mặt khác cũng có thể dễ dàng đóng cửa lấy nước nếu phát hiện nguy cơ ô  nhiễm.

Cùng trên một lòng hồ hay đoạn sông, suối có chất lượng nước tương đối tốt và có thể  phù hợp cho các điểm nuôi cá an toàn theo G.A.P  như  Sông Đà, hồ thủy điện Hòa Bình,... nhưng  đa phần vẫn không đạt tiêu chuẩn cho khu nuôi của OGAF.  Điểm lựa chọn còn phải thỏa mãn một số tiêu chí  khắt khe hơn rất nhiều như : vị trí hướng phía đầu nguồn, xa hoặc biệt lập khỏi  các khu lồng bè  nuôi công nghiệp có nhiều mầm bệnh; rất khó bị tác động bởi các sự cố ô nhiễm môi trường;  dòng chảy phải có đặc tính thủy động tốt với mức độ oxy hòa tan cao; độ sâu dòng chảy phải đảm bảo để cá nuôi luôn được hưởng chất lượng  nước mặt tốt .  Hệ vi sinh vật nước nôi khu  được quan sát và đánh giá thường xuyên để luôn duy trì tính lành mạnh  như trong môi trường sinh thái trong lành xung quanh. Môi trường nước tại điểm đặt khu nuôi  thực xanh phải có chất lượng ổn định  dựa theo các số liệu quan trắc  dài hạn

OGAF hiện lựa chọn 1 điểm nuôi tại Yên Bái  và 1 tại  Phú Thọ.


Chất lượng môi trường nước tốt với tính ổn định  cao  có tầm quan trọng hàng đầu  trong nuôi cá hướng hữu cơ

b) Con giống

Các giống cá có khả năng thích ứng tốt, phù hợp với  môi trường nước tại các vùng nuôi sẽ được lựa chọn như:  Trắm, Chép, Lăng, Rô phi, Diêu hồng, Ngạnh... được lựa chọn. Con giống được  thu  từ môi trương tự nhiên hoặc  từ các khu ương giống  có chất lượng cá bố mẹ tốt.  Cá con phải đảm bảo khỏe mạnh, không nhiễm nấm và ký sinh trùng.

c) Thức ăn [Tham khảo các yêu cầu quan trọng đối với thức ăn chăn nuôi cho OGAF tại đây]

Để  đảm bảo  tính xanh, tính hữu cơ cho  môi hình nuôi  nhằm thay thế thức ăn và các loại chế phẩm bổ sung dinh dưỡng  công nghiệp (premix, complex vitamin....), cá nuôi  sử dụng các nguồn động thực vật thủy sinh  tại và các nguồn thức ăn  có nguồn gốc tự nhiên như sau:

+ Thức ăn xanh

- Các loại thực vật thủy sinh,  cỏ trồng, lá và cây thân thảo thu hái từ đồi rừng được thả trực tiếp xuống  nước làm thức  ăn cho  cá.  Các loại thực vật này  phải được thu hái tự nhiên hoặc được canh tác tại nhữn vùng đất không  ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật hoặc sử dụng phân hóa học. Thóc và ngô ủ mọc mầm cũng được sử dụng như một loại thức ăn xanh cao cấp  giàu vitamin  và dinh dưỡng.


Nguồn thức ăn từ thực vật canh tác tại chỗ theo hướng hữu cơ hoặc thu hái tự nhiên từ các khu vực có chất lượng môi trường sinh thái tốt

+ Thức ăn tươi sống từ động vật

Các loại tôm, tép, cá nhỏ, ốc... vừa đánh bắt: được thả trực tiếp vào khu  nuôi làm thức ăn. Các loại cá lớn hơn  được mổ bụng, bỏ ruột  rồi băm nhỏ .  Các loại thức ăn tươi sống có nguồn gốc động vật này phải được sử dụng càng sớm càng tốt sau khi đánh bắt, tránh bị ươn sình và suy hao dinh dưỡng . Vùng  nước đánh bắt phải được xác định là không bị ô nhiễm hoặc dịch bệnh trong thời gian dài trước khi  đánh bắt.

- Giun hoặc giun quế: được cho ăn trực tiếp hoặc băm nhỏ

Cá tép tạp, giun và ốc là các nguồn thức ăn tự nhiên, tươi sống  cung cấp protein chủ yếu

+ Thức ăn gốc thức vật được chế biến  tại chỗ :

Các loại đậu, cám gạo, bột sắn, bột ngô  tạo thức ăn tinh  giàu năng lượng và đạm có thể được phối trộn với một số thức ăn khác như  cá băm, giun , lá sắn, bèo dâu... được nghiền nhỏ, trộn đều với rỉ mật mía rồi ủ cùng  men vi sinh để tạo thức ăn rất tốt cho cá.

Hỗn hợp nghiền này cũng có thể được hấp chín, tạo độ kết dính rồi trộn với bèo dâu tạo độ nổi và đùn viên cho cá dễ bắt mồi.

Lưu ý: Do nguồn bột (ngô, gạo, sắn...) từ canh tác hữu cơ là khan hiếm và có giá thành rất cao nên để duy trì tính cận hữu cơ của mình,  các lồng bè trong khu nuôi thuộc OGAF sử dụng  các nguồn hạt, củ từ các vùng trồng ít nhất phải đạt G.A.P hoặc canh tác theo hướng hữu cơ.

Các nguồn đậu tằm tạo độ dai, giòn cho cá trắm và chép cũng  KHÔNG ĐƯỢC sử dụng trong các khu nuôi thực xanh thuộc OGAF do loại hạt này chủ yếu được nhập từ nước ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc) và rất khó kiểm soát về  về tính hữu cơ trong quy trình canh tác, bảo quản.  Ngoài ra, việc ép vật nuôi một loại thức ăn "chức năng" để tạo đặc điểm phi tự nhiên  (giòn)  cũng không tuân thủ các nguyên tắc chính của Chương trình.

Ngô, sắn lát được nghiền nhỏ, cùng cám gạo có thể được phối trồn và ủ với men vi sinh hoặc hấp chín

Ngô, sắn lát được nghiền nhỏ, cùng  cám gạo có thể được phối trồn và ủ với men vi sinh hoặc hấp chín

 Khoáng chất và vitamin từ tự nhiên

Các khu nuôi thực xanh trong OGAF sử dụng các nguồn  cung cấp khoáng và vitamin từ tự nhiên , do đó cơ cấu các nguồn thức ăn xanh đòi hỏi phải đa dạng với các loại thực vật giàu vitamin tự nhiên  và thức ăn tươi sống  mới đánh bắt (do các nguồn tôm, tép, cá vụn hay giun  ươn, kém tươi thường phải nấu chín và sẽ bị suy hao vitamin do nhiệt).  Đồng thời,  đảm bảo một môi trường nuôi trong lành, mật độ nuôi thấp, tránh các  các hoạt động gây stress làm giảm sức đề kháng và hao tổn vitamin trong cơ thể cá.

d) Quản lý khu nuôi và phòng ngừa dịch bệnh - thực hành chăn nuôi không kháng sinh

Do có tiêu chí  cao trong việc chọn đặt điểm nuôi  như đã đề cập ở phần trên, chất lượng  môi trường nước tại các khu khu nuôi thuộc OGAF là rất tốt. Tuy vậy,  mật độ nuôi  trên một đơn vị diện tích mặt nước phải  thấp  và bố trí khoa học theo hướng  của dòng chảy để đảm bảo duy trì khả năng tự làm sạch của nước  đối với lắng cặn thức ăn và phân thải từ cá.  Chất lượng nước vẫn phải được theo dõi thường xuyên  thông qua các đánh giá nội vi cũng như dữ liệu quan trắc tiểu vùng lưu vực.

Là mô hình chăn nuôi cận hữu cơ,  không đặt nặng yếu tố sản lượng như các mô hình nuôi an toàn thông thường, mật độ nuôi  phải thấp để cá có nhiều không gian bơi lội, tăng sức đề kháng, cũng như giảm rủi ro nhiễm nấm da do và chạm, trầy xước vảy/da...

Mầm bệnh và ký sinh trùng tồn tại ở hầu khắp mọi nơi.  Khỏe mạnh chính là trạng thái cân bằng giữa  áp lực bệnh tật và khả năng miễn  dịch của vật nuôi. Tiếp cận phòng ngừa trong chăn nuôi hữu cơ  là cách để tác động tích cực đến  2 vế của sự cân bằng này: giảm/ tiêu trừ mầm bệnh đồng thời tăng khả năng miễn dịch  tự nhiên của cơ thể vật nuôi.

+ Tiêu trừ mầm bệnh

Khu luôn  phải được vệ sinh theo định kỳ để ngăn ngừa ứ đọng  của rác gây cản trở dòng chảy cũng như các bợn thức ăn thừa (nếu có).  Vùng cho ăn luôn được vệ sinh sạch sẽ.

Vôi bột được sử dụng để khử trùng khu nuôi  sau mỗi đợt thu hoạch.  Cá giống, cá nhỏ nhập vào nuôi phải được vệ sinh sạch sẽ và loại bỏ các cá thể bị bệnh.

Yêu cầu cần đạt: Cá có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn và phát triển lành mạnh

Yêu cầu cần đạt: Cá có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn và phát triển  lành mạnh

+ Nâng cao sức đề kháng (miễn dịch) cho cá

Duy trì cơ cấu thức ăn xanh, thức ăn tươi sống và thức ăn tự chế biến một cách khoa học để cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cá.  Thức ăn tươi sống như tôm, tép, hay cá vụn phải là mới đánh bắt để duy trì hàm lượng vitamin cao và tránh gây bệnh tiêu hóa cho cá nuôi.

Tạo không gian cho cá vận động để  tăng sức đề kháng bằng cách giảm mật độ nuôi .

Sử dụng một số chủng vi sinh hữu hiệu để ủ thức ăn (giàu tinh bột) gúp cá dễ tiêu hóa và lành mạnh đường ruột

e) Trị bệnh

Khi các biện pháp phòng ngừa kể trên được thực hiện tốt thì cá  hầu như không bị nhiễm bệnh.  Vì vậy điều trị  chỉ đóng vai trò thứ yếu trong  nuôi cá theo mô hình thực xanh cận hữu cơ.  Trường hợp  cá bị bệnh,  OGAF chủ trương  cách ly ngay và  sử dụng các loại  thảo dược hoặc các phương pháp truyền thống để chữa trị . Thảo dược được ưu tiên thu hái tại địa phương hoặc những nguồn có thể kiểm soát. Không thu mua các loại thảo dược không rõ nguồn gốc được canh tác không an toàn hoặc bảo quản bằng hóa chất. Các loại thảo dược được sử dụng như:

Lá thầu dầu tía  (bệnh loét mang đốm đỏ);

Tỏi (bệnh tiêu hóa và ký sinh trùng), tỏi ủ men còn có tác dùng phòng một số bệnh do vi khuẩn;

Lá xoan (trùng mỏ neo, trùng bánh xe);

Rau sam (bệnh tiêu hóa ở cá trắm cỏ);

Cây răng cưa (cây chó đẻ) trị bênh hoại tử ở cá trê, cá lăng;

Cỏ sữa lá nhỏ (trị viêm ruột, thối rữa mang do vi khuẩn);

Cây lá nghề (trị viêm ruột, loét mang cho trắm cỏ, rô phi) vv..

Một số loại cây/lá còn có tác dụng phòng bệnh rất tốt nếu định kỳ  dụng làm sạch môi trường nước.

Một số  loại cây dược thảo có tác dụng  tốt trong  phòng và trị bệnh cho cá nuôi hữu cơ

 

Khi bệnh cảnh đặc biệt nặng và phương pháp sử dụng thảo dược thất bại,  lồng cá phải được loại khỏi nhóm đạt chuẩn Chăn Nuôi Thực Xanh để xem xét sử dụng các biên pháp điều trị khác.

Trong mọi trường hợp, nếu để xảy ra dịch bệnh, khu chăn nuôi phải  xem xét, rà soát và báo cáo ngay các tồn tại đã được phát hiện cũng như giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn sự cố tương tự trong tương lai.