HỎI-ĐÁP VỀ CHĂN NUÔI THỰC XANH

Rất nhiều quảng bá mang tính thương mại về các sản phẩm từ hoạt động chăn nuôi có sử dụng  một số loại thức ăn như:  men vi sinh EM, thảo dược, giun quế, ốc bươu thậm chí là tảo biển hay....sâm núi(!).... đã gây  nhiều hiểu lầm cho nhiều người chăn nuôi mới và người tiêu dùng  về tính hữu cơ, tính an toàn cũng như đặc điểm dinh dưỡng vượt trội của các sản phẩm này.

Ở nhiều nội dung quảng  bá , quy trình chăn nuôi tự phong "siêu sạch, siêu xanh"  coi như  đã đáp ứng được mọi tiêu chí hữu cơ và có thể dễ dàng để đạt được chứng nhận Hữu cơ từ các tổ chức chứng nhận uy tín. Tuy nhiên,  cho dù rất mong muốn, hầu hết các cơ sở vẫn không  chủ động đăng ký đánh giá  chứng nhận do còn  bất cập rất lớn giữa  các nội dung quảng  bá và thực tế chăn nuôi.

Các nội dung dưới đây được trình bày ngắn gọn ở dạng Hỏi-Đáp để cung cấp các hiểu biết đúng   về  chăn nuôi  thực xanh, chăn nuôi hữu cơ  cũng như làm rõ thêm một số các thắc mắc hoặc hiểu lầm mà nhiều người chăn nuôi  mới cũng như người tiêu dùng  thường gặp về  đặc điểm  của các sản phẩm.

Chăn nuôi Thực xanh khác biệt gì với chăn nuôi Hữu cơ ?

Trả lời:

Chăn nuôi Thực xanh (CNTX) là hình thức chăn nuôi  hướng hữu cơ mạnh nhất (cận hữu cơ) và  trong một số điều kiện nhất định, có thể tương đồng với các mô hình chăn nuôi  hữu cơ.

Cụ thể:

Chăn nuôi xanh đơn giản (CNX)  là hoạt động chăn nuôi bao gồm một hoặc nhiều  giải pháp chăn nuôi xanh giúp cho hoạt động chăn nuôi gần gũi, hòa hợp hơn với tự nhiên,   giảm tác động tiêu cực tới môi trường so với chăn nuôi công nghiệp. VD:  giải pháp tận dụng các nguồn thức ăn tại chỗ như bèo, rau, thân cây chuối, cám gạo, .., các nguồn phụ phẩm nông nghiệp và sản phẩm từ canh tác  xanh (tránh phụ thuộc vào thức ăn tổng hợp và quá trình chế biến công nghiệp...);  giải pháp tận dụng phân thải nhằm nhân nuôi nuôi giun, nuôi cá hay tạo bio gas; giải pháp sử dụng men visinh  ủ thức ăn  (giảm tiêu hao năng lượng)...

Tuy gần gũi và có rất nhiều điểm tương đồng với chăn nuôi hữu cơ   nhưng  CNX  vẫn thiếu đi tính nguyên tắc mà chăn nuôi hữu cơ  phải có để đảm bảo chắc chắn rằng các giải pháp xanh được thực hiện  xuyên suốt và hiệu quả tại tất cả các khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình  chăn nuôi.

Một số mô hình Chăn Nuôi Xanh mới chỉ tập trung vào một số giải pháp xanh nhất định trong khâu  dinh dưỡng   (thay thế một phần thức ăn công nghiệp  bằng  thức ăn tự nhiên); mô hình khác  mới chỉ tập trung vào tái sử dụng và  xử lý phế thải (bảo vệ môi trường)... mà còn bất cập trong các khâu quan trọng khác như:  chăm sóc thú y (sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc thú y..), bảo đảm điều kiện sinh trưởng tự nhiên của vật nuôi (phúc lợi vật nuôi), bảo đảm chất lượng môi trường  sinh thái. Tính hiệu quả của các giải pháp chăn nuôi xanh cũng chưa cao.

Chăn nuôi Thực xanh (CNTX)  là cách nói ngắn gọn của nội dung Thực hành Chăn nuôi xanh với các Nguyên tắc hữu cơ  nhằm giải quyết tất cả các bất cập nêu trên thông qua việc  thực hành đồng bộ  và hiệu quả các giải pháp Chăn Nuôi Xanh  theo các nguyên tắc Hữu cơ ở TẤT CẢ CÁC KHÂU QUAN TRỌNG của quy trình chăn nuôi như:  quản lý môi trường chăn nuôi, dinh dưỡng,  chăm sóc sức khỏe, phúc lợi vật nuôi.

Đối với Chương trình OGAF, do được tiến hành trong các khu chăn nuôi chọn lọc có chất lượng  môi trường và đặc điểm sinh thái  rất tốt nên việc thực hiện CNTX  có nhiều thuận lợi. Mặc dù vậy, do điều kiện tại Việt Nam, OGAF vẫn phải chấp nhận một thực tế là  còn phải sử dụng một phần các loại  hạt ngũ cốc  (ngô, gạo, đậu tương)  dùng cho chăn nuôi tại các khu do mình quản lý) chưa  hoàn toàn đạt tiêu chuẩn hữu cơ do nguồn cung các loại hạt hữu cơ là rất hạn chế (đối với ngay cả nhu cầu sử dụng của con người) hoặc có giá thành rất cao.  Đây hiện vẫn là  trở ngại to lớn cho tất cả các dự án phát triển chăn nuôi hữu cơ tại Việt Nam hiện nay  (ngoại trừ một vài mô hình nuôi bò sữa hữu cơ của các tập đoàn có tiềm lực kinh tế rất lớn ; chấp nhận chi phí rất cao để áp dụng ở một quy mô giới hạn- chủ yếu để  phục vụ quảng bá thương hiệu-  mà không thể đủ nguồn lực để áp dụng đại trà. Hơn nữa, bò là loại vật nuôi có thể  dễ dàng giảm khẩu phần sử dụng  hạt ngũ cốc để tăng cường lượng cỏ-vốn có thể dễ dàng canh tác hữu cơ hơn  các cây lương thực khác và có giá thành thấp ( cỏ hữu cơ không phải là cây lương thực phục vụ con người-không có sự cạnh tranh về nhu cầu sử dụng).

Để khắc phục điều này, nhằm đảm bảo tính xanh, tính tự nhiên ở mức cao nhất trong điều kiện hiện có tại Việt Nam,  OGAF đã đặt ngưỡng tối thiểu chất lượng đầu vào cho các nguồn hạt này phải  từ  các quy trình canh tác an toàn (G.A.P) trở lên hoặc từ các quy trình hướng hữu cơ với giống ngũ cốc không bị can thiệp bởi công nghệ biến đổi gen ở những vùng trồng được đánh giá chi tiết. Bên cạnh đó, tự  canh tác tại chỗ theo hướng hữu cơ cũng là một nguồn bổ sung  có ý nghĩa.

Mặc dù vậy, tính tự nhiên, tính xanh trong các thực hành chăn nuôi của OGAF ở nhiều nội dung thậm chí còn cao hơn so với nhiều mô hình  chuẩn hữu cơ, VD: diện tích bình quân/1 gia cầm là lớn hơn rất nhiều so với mức  4m2/1 gia cầm như yêu cầu tối thiểu của một số tiêu chuẩn hữu cơ phổ biến;  Cơ cấu thức ăn được khuyến khích nhiều rau, cỏ và thực vật tươi hơn (tính xanh cao hơn)  so với nhiều mô hình hữu cơ thiên về  sử dụng ngũ cốc ; hệ sinh vật nền trong các khu nuôi thả đòi hỏi phải đa dạng giúp vật nuôi tìm được nhiều mồi từ tự nhiên hơn, giảm sự phụ thuộc vào nguồn thức ăn bên ngoài cung cấp hơn so với nhiều mô hình chăn nuôi hữu cơ đạt chuẩn ...

Chăn nuôi Thực Xanh khác biệt gì với chăn nuôi an toàn theo các quy trình G.A.P.?

Các quy trình chăn nuôi an toàn theo GAP/GAHP (như VietGAP/Global GAP)   chấp nhận cho phép  sử dụng thức ăn và chế phẩm bổ sung dinh dưỡng công nghiệp cũng như  thuốc thú y hay kích thích sinh trưởng  đặt dưới sự kiểm soát. Các quy trình này được phát triển nhằm phù hợp hơn với các đặc điểm về chăn nuôi  cho sản lượng cao, chăn nuôi công nghiệp hay hướng công nghiệp nhằm  đáp ứng nhu  cầu tiêu thụ lớn của xã hội. Khái niệm SẠCH của GAP do đó mang nặng hơn ý nghĩa "kiểm soát" ở mức có thể chấp nhận nhằm cân bằng giữa nhu cầu SẠCH và nhu cầu  SẢN LƯỢNG .

Chăn Nuôi  Thực Xanh (OGAF)   hướng tới   đảm bảo tính tự nhiên, tính hữu cơ cho hoạt động chăn nuôi thông qua ápd ụng  các giải pháp  xanh trong toàn bộ các khâu của quy trình chăn nuôi như:  thay thế các sản phẩm dinh dưỡng công nghiệp bằng thức ăn xanh /thức ăn tự nhiên tự chế biến; sử dụng vitamin  và khoáng từ thức ăn tươi tự nhiên thay vì nguồn tổng hợp;   thực hành chăn nuôi không kháng sinh,  và nâng cao phúc lợi vật nuôi (điều kiện sống củ vật nuôi). Vật nuôi có thể mất thời gian sinh trưởng dài hơn- tăng trọng chậm hơn so với chăn nuôi công nghiệp theo G.A.P.  nhưng chất lượng dinh dưỡng trong sản phẩm chăn nuôi (thịt, trứng, cá)  tốt hơn, cân bằng hơn.  Về bản chất, CNTX -OGAF là hình thức chăn nuôi  cận hữu cơ, không đề cao yếu tố SẢN LƯỢNG.

(Xem chi tiết hơn  ở BẢNG SO SÁNH MỘT SỐ TIÊU CHÍ tại đây)

Chăn nuôi Hữu cơ khó như thế nào? Tại sao có rất ít các sản phẩm chăn nuôi tại Việt Nam đạt chuẩn Hữu cơ ? Chăn nuôi Hướng hữu cơ là gì?

Trồng trọt (canh tác) hữu cơ đã khó khăn nhưng chăn nuôi hữu cơ được xem là khó khăn hơn  rất nhiều  do:

- nguyên nhân mang tính kỹ thuật: cơ thể sống của động vật phức tạp hơn,  nhạy cảm hơn với các biến động của điều kiện ngoại cảnh, đòi hỏi nhiều điều yêu cầu cao mang tính đặc thù  trong chăm sóc hơn thực vật (cây trồng) ; và

- nguyên nhân mang tính kinh tế : do phải sử dụng thức ăn từ chính nguồn canh tác (trồng trọt)  hữu cơ- thứ còn khan hiếm cho ngay cả nhu cầu sử dụng của con người- nên  khan hiếm và chi phí  rất lớn- đặc biệt làc ác nguồn hạt (ngũ cốc) hữu cơ.

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành bộ tiêu chuẩn TCVN 11041 nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất nông nghiệp hữu cơ nói chung, chăn nuôi hữu cơ nói riêng . Các tiêu chuẩn này đã mang các tiêu chuẩn về Chăn nuôi hữu cơ của Việt Nam về gần hơn với các tiêu chuẩn/yêu cầu của khu vực và thế giới như EU Organic, USDA...

So với các hướng đẫn chăn nuôi hữu cơ cũ (mang tính thạm thời ) của Việt Nam, ngoài  việc bổ sung các yêu cầu kỹ thuật ngặt nghèo  hơn, bộ tiêu chuẩn này  đã chính thức yêu cầu: NGUỒN THỨC ĂN CHO ĐỘNG VẬT PHẢI LÀ SẢN PHẨM TỪ CANH TÁC HỮU CƠ. Hệ quả là một số chứng nhận hữu cơ trước đây cho một số ít cơ sở đã chính thức không còn giá trị  (do vẫn  cho phép sử dụng thức ăn từ các nguồn canh tác không phải hữu cơ  cũng như chưa đáp ứng được các đòi hỏi  quan trọng khác).

Khác với cách hiểu thông thường rằng  vật nuôi dân dã trong nông hộ  sử dụng  thức ăn từ   gạo, ngô, khoai,  sắn, bã rượu, rau, cỏ,  bèo, thân chuối, ốc...tại các vùng quê đương nhiên là hữu cơ. Trong thực tế, xét nghiêm túc  theo các tiêu chí hữu cơ ,  cách hiểu này thường không đúng do đa phần các loại hạt ngũ cốc và thực vật trên thậm chí còn chưa được canh tác theo quy trình an toàn (G.A.P) chứ chưa nói đến hữu cơ khi tình trạng sử dụng thuốc diệt cỏ, phân hóa học, thuốc trừ sâu tại nông thôn diễn ra khá phổ biến . Các mô hình canh tác an toàn G.A.P hay hướng hữu cơ còn chưa có ở rất nhiều vùng địa phương.  Cũng không có gì đảm bảo tôm, cá, ốc... sử dụng cho chăn nuôi dân dã hay nông hộ được đánh bắt tại những vùng nước hoàn toàn trong sạch, không bị ô nhiễm. Ngoài ra, khi vật nuôi dân dã  bị bệnh, thói quen sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc thú y một cách tùy tiện và tự phát bởi người dân còn diễn ra phổ biến với  mong muốn thật nhanh khỏi bệnh, tránh nguy cơ thua lỗ  nếu vật nuôi bị chết.  Vật nuôi có thể được tiêu thụ nhanh khi chưa đủ thời gian cách ly sau khi sử dụng kháng sinh.  Cám công nghiệp và các chế phẩm bổ sung dinh dưỡng công nghiệp (các loại vitamin tổng hợp, premix khoáng...)  vẫn có thể được dùng  đan xen để nhanh đạt tới trong lượng thương phẩm .  Các vật nuôi thả rông còn chịu  rủi ro  từ những  nguồn nước cống rãnh hay khe lạch bị ô nhiễm  nước thải sinh hoạt hay công nghiệp, từ nguồn phân thải  không được sử lý tốt của gia súc bệnh  nên dễ nhiễm các loại ký sinh trùng.

Tính đến 6/2019 mới chỉ có một vài tập đoàn chăn nuôi bò sữa với tiềm lực kinh tế rất mạnh là đã khởi động kế hoạch chăn nuôi  hữu cơ thương phẩm cho một phần diện tích rất nhỏ so với  quy mô dành cho tổng đàn.

Chăn nuôi hướng  hữu cơ là gì?

Ngoài các sản phẩm tự phong là "hữu cơ" bởi một số cơ sở chăn nuôi, vốn tự đề ra các bộ tiêu chuẩn nội bộ không được thừa nhận rộng rãi (còn được gọi là tiêu chuẩn tự sửa đổi) thì cụm từ "chăn nuôi hướng hữu cơ" là để chỉ việc cố gắng  nâng cao tính an toàn, tính xanh/hữu cơ của sản phẩm chăn nuôi thông  qua áp dụng một số giải pháp xanh như sử dụng phụ phẩm nông nghiệp , thức ăn tự nhiên  (rau, củ, giun, tép, ốc...) thay thế  một phần hay toàn bộ thức ăn công nghiệp, ứng dụng men vi sinh trong chăn nuôi, sử dụng thảo dược chữa bệnh...  Nhiều mô hình G.A.P cũng đã tiếp tục nâng cao chất lượng và tính an toàn theo hướng  hữu cơ này.

Các mô hình chăn nuôi "tự nhiên" hay "dân dã" tại nông hộ tuy có sử dụng  ngô, thóc, khoai/sắn hay phụ phẩm nông nghiệp như bã rượu, hèm bia, rau cỏ ..cũng chỉ được xem là hướng hữu cơ ở một mức độ nào đó nếu quy trình canh tác để tạo ra các loại thức ăn này   chưa hoàn toàn là hữu cơ,  các vấn đề về ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước cũng như các bất cập tại các khâu khác như phòng và điều trị bệnh còn tồn tại...

Trong thực tế,  như đã đề cập, các yêu cầu cần có để thực hiện chăn nuôi hữu cơ một cách toàn chỉnh là cực kỳ khó đáp ứng,  việc   "hướng"  hữu cơ được đến mức độ nào còn phụ thuộc rất  lớn vào năng lực cơ  sở vật chất, điều kiện môi trường sinh thái, và  rất quan trọng , là  kiến thức chuyên môn   và sự nghiêm túc trong thực hiện tại mỗi cơ sở.

Hai sản phẩm chăn nuôi  cùng đạt tiêu chuẩn  Hữu Cơ thì chất lượng có là tương đương nhau?

Trả lời: KHông hẳn!

Một cách hình ảnh, tiêu chuẩn, tiêu chí giống như  mức xà nhảy cao. Khi  cùngnhảy qua được mức xà là cùng đạt chuẩn nhưng  "độ vượt" xà có thể khác nhau. VD: một tiêu chí  trong bộ tiêu chuẩn hữu cơ yêu cầu gia cầm phải có không gian vận động đạt tối thiểu 2m2/một cá thể . Cơ sở chăn nuôi  A vừa đủ thỏa mãn tiêu chí này khi có không gian vận động cho gia cầm đủ 2m2/một cá thể . Cơ sở  B có diện tích nuôi thả lớn  hơn có thể đạt mức 5m2/một cá thể với hệ thực vật nền phong phú hơn, gia cầm kiếm được nhiều thức ăn từ tự nhiên hơn  và do đó cho chất lượng tốt hơn cho dù cả hai cơ sở cùng đạt chứng nhận Hữu cơ. Điều này còn được gọi là có năng lực thực hành  tốt hơn (Better Perfomance).

Tương tự, không phải cùng đạt chứng nhận hữu cơ thì tính "xanh" của hai cơ sở chăn nuôi là giống nhau: Cơ sở A nuôi bò hữu cơ sử dụng nhiều ngũ cốc (hữu cơ) hơn, ít chăn thả tự nhiên và sử dụng cỏ xanh hơn cơ sở B thì tính xanh ít hơn,  chất lượng thịt là kém hơn.

Trong trồng trọt (canh tác) điều này giống như  so sánh cùng một loại rau đạt chuẩn hữu cơ nhưng được  trồng ở 2 vùng thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau sẽ có độ bóng mỡ, mọng nước hay xơ cằn hoặc dai/cứng rất khác nhau.

Tại sao Thức ăn công nghiệp thường không được sử dụng trong Chăn nuôi xanh, Chăn nuôi hữu cơ?

Chúng ta thường nghe nói tới  điều này trên các tài liệu chuyên môn hoặc các quảng cáo sản phẩm nhưng không nhiều người chăn nuôi mới và người tiêu dùng  nắm được đầy đủ các lý do. Trong thực tế,  thức ăn công nghiệp (TACNG)  thường  không được sử dụng cho chăn nuôi xanh, chăn nuôi hữu cơ bởi  4 nguyên nhân chủ yếu sau:

1)TACNG thường được sản xuất với khối lượng rất lớn bởi các hệ thống dây truyền máy móc công nghiệp nên đòi hỏi sản lượng  hạt ngũ cốc làm nguyên liệu đầu vào  phải lớn tương  ứng. Nguồn hạt này không thể được đáp ứng đủ bởi  quy trình canh tác hữu cơ mà phải được canh tác bằng các hình thức  cho năng suất lớn với giá cạnh tranh . Đó thường là hình thức canh tác sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thự c vật,  sử dụng công nghệ biến đổi gen tăng năng suất và khả năng kháng bệnh cho cây trồng...). Ngoài ra,  các loại bột thịt/xương (protein) động  vật  với khối lượng rất lớn được bổ sung vào TACNG cũng khó có thể được đáp ứng đủ từ chăn nuôi hữu cơ;

2) TACN thường không thể sử  dụng thân, lá, hay củ quả của thực vật cũng như  sản phẩm động vật ở dạng tươi sống do quá trình sản xuất TACNG thường  có công đoạn gia nhiệt , sấy khô, nghiền mịn để tăng thời gian bảo quản và  đảm bảo sự đồng đều trong phối trộn. Do đó hầu hết hàm lượng  vitamin tự nhiên trong các nguyên liệu trên đã bị suy hao do nhiệt, do  làm khô (hạ độ ẩm) và thời gian tồn trữ .  Người ta phải  bổ sung vitamin tổng hợp công nghiệp  cùng các premix khoáng  vào TACNG để duy trì sức khỏe cho vật nuôi. Một số các chất kích thích tăng trưởng  hay thuốc phòng bệnh (trong danh mục ) cũng có thế được đưa vào TACNG;

3) Một số chất ổn định, chất bảo quản cũng  thường được sử dụng để tăng thời gian bảo quản, tồn trữ của nhiều loại TACNG.

4) Một số chất kích thích tăng trưởng và kháng sinh có thể được đưa vào TACNG nhằm ngừa bệnh hoặc đảm bảo khả năng tăng trọng của vật nuôi (các điều luật mới đã dần có các  chế tài đối với các chất này).

Các loại thịt, trứng được quảng bá là sản phẩm chăn nuôi bằng vi sinh thực sự là gì? Tính an toàn hay hữu cơ của các sản phẩm chăn nuôi này như thế nào?

Hỏi:  Sử dụng vi sinh trong chăn nuôi có đảm bảo sản phẩm thịt/trứng là an toàn hay hữu cơ?

Trả lời:  KHÔNG

Chăn nuôi với chế phẩm vi sinh là cách thức sử dụng khả năng của các vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganisms) để nhằm tới 2 mục tiêu:  (1) lên men thức ăn (giúp tiêu hoá tốt và ức chế một số vi khuẩn có hại trong đường ruột của vật nuôi) qua đó giảm một số bệnh tiêu hoá tăng tỷ lệ thu hồi chất dinh dưỡng; và (2) phun/tưới vào chất thải chăn nuôi làm giảm ô nhiễm môi trường. Đây chỉ được coi là một giải pháp xanh đơn giản trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi xanh nói riêng.

Cho dù có đóng góp vào việc nâng cao khả năng kháng bệnh của vật nuôi (chủ yếu đường tiêu hoá) và giảm ô nhiễm môi trường nhưng EM không phải là phương thuốc thần diệu để phòng chống được tất cả các bệnh có thể nhiễm phải của vật nuôi  như một số thông tin quảng bá của nhiều cơ sở kinh doanh thịt/trứng. Nếu không tuân thủ các quy trình và đảm bảo được các yếu tố khoa học trong quá trình chăn nuôi (bố trí chuồng trại và mật độ nuôi phù hợp-chạy theo sản lượng, dinh dưỡng không khoa học, vệ sinh/thú y không tốt...) thì vật nuôi với men vi sinh EM vẫn sẽ bị stress, giảm sức đề kháng hoặc nhiễm mầm bệnh nguy hiểm và kèm theo đó là rủi ro về sử dụng kháng sinh và thuốc thú y như bất cứ mô hình chăn nuôi nào khác.

Bên cạnh đó, nếu ý thức người chăn nuôi với chiế phẩm vi sinh không tốt, việc sử dụng các chất ngoài danh mục cho phép hoàn toàn có khả năng xảy ra. Tương tự là việc có hay không sự sử dụng thức ăn  biến đổi gen hay thức ăn công nghiệp do bởi các sản phẩm này hiện nay rất sẵn có trên thị trường với tính tiện dụng, giá thành rẻ, và khả năng cho tăng trọng nhanh của chúng.

Ứng dụng EM hay vi sinh, do đó,  hoàn toàn không phải là một"bảo chứng" cho tính sạch, tính hữu cơ của sản phẩm chăn nuôi nếu không đảm bảo chất lượng  và tính xanh ở các khâu quan trọng khác (dinh dưỡng/cơ cấu thức ăn, công tác thú y và vệ sinh phòng bệnh,...) . Rất nhiều cơ sở có sử dụng vi sinh trong chăn nuôi thậm chí còn không thể đạt chuẩn GAP khi có các đánh giá đầy đủ.

Những  nội dung quan trọng này thường không được  đề cập tới trong các thông tin PR, các Video Clip  quảng bá mang tính một chiều  về  rất nhiều sản phẩm "thịt/trứng vi sinh" hiện nay  khi chỉ  tập trung nêu lên những nét "mới lạ", tạo điểm nhấn mang tính thương mại.

Hỏi:  Thịt vi sinh có bổ dưỡng hơn ?

Trả lời:  KHÔNG

Như đã đề cập, EM hay vi sinh chỉ đơn thuần có tác dụng tăng cường khả năng tiêu hóa, giảm một số bệnh thường gặp và giảm ô nhiễm môi trường chứ không hề cung cấp thêm chất dinh dưỡng hay có tác động vào tế bào, hoặc làm thay đổi  bản chất protein của mô thịt động vật. Thịt "vi sinh" HOÀN TOÀN KHÔNG bổ dưỡng hơn các  loại thịt  "thường" nếu có cùng một cơ cấu thức ăn cân bằng dinh dưỡng và quá trình chăn nuôi đảm bảo công tác vệ sinh, thú y và chăm sóc sức khỏe vật nuôi một cách khoa học.  Thịt "vi sinh" sẽ hoàn toàn kém bổ dưỡng hơn các loại "thịt thường" nếu cơ cấu thức ăn chăn nuôi vi sinh thiếu cân bằng (thiếu chất)...

Một số cảm nhận về sự khác biệt của người tiêu dùng chủ yếu do tâm lý bị ảnh hưởng lớn bởi quảng cáo. Một số lại là kết quả của sự so sánh với đối chứng  là thịt kém chất lượng từ vật nuôi  của mô hình chăn nuôi hoặc giết mổ không đảm bảo (thức ăn thiếu cân bằng dinh dưỡng, thức ăn có chất tăng trọng hay tồn dư thuốc thú y và có mùi lạ, vật nuôi bị tích nước khi mổ, ...)

Một số mẫu thịt lợn được chăn nuôi sạch nhưng bị giết mổ khi còn ít tháng tuổi khi chế biến cũng cho hiện tượng nước luộc không trong, miếng thịt chưa thật thơm hay săn chắc hoặc ra nhiều nước  hoàn toàn là do tuổi lợn chưa  đạt chứ không phải là kết quả của việc chăn nuôi không an toàn như một số quảng cáo PR cố tình đem ra so sánh để  nêu bật sự "khác biệt"  cho sản phẩm thịt "vi sinh", thịt "giun quế" từ vật  nuôi già tháng hơn.... làm hoang mang người tiêu dùng.

Các loại thịt "vi sinh"  nếu khai thác từ vật nuôi bị  giết mổ non tuổi cũng sẽ gặp tình trạng nước đục hay chưa thơm thịt như vậy.

* Tham khảo:   Năm 2018,   EMRO Nhật Bản, một trong những tổ chức cung cấp chế phẩm vi sinh EM cho  nhiều cơ sở chăn nuôi tại Việt Nam, thông qua liên hệ với  một số chủ cơ sở chăn nuôi,  đã xác nhận chỉ là tổ chức nghiên cứu và kinh doanh các chế phẩm vi sinh mà không phải là cơ quan cấp chứng nhận hữu cơ  hay an toàn trong chăn nuôi. Các chứng nhận từ tổ chức này cấp cho nhà chăn nuôi tại Việt Nam chỉ là ghi  nhận nội bộ từ nhà sản xuất cho sự tuân thủ của khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm men EM đã mua  là chính hãng (Certificate of Authenticity) và công nghệ/quy trình sử dụng đúng . Nhà sản xuất có thể ghi nhận và khuyến khích sự tuân thủ này thông qua việc đặt ra các ý nghĩa xanh "Green" cho Chứng nhận đó với hàm ý về sự hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môi trường thông qua sử dụng men vi sinh. EMRO khẳng định không phải là tổ chức theo dõi hay đánh giá các chuẩn chăn nuôi và do đó không thể khẳng định về tính an toàn của  sản phẩm (có hay không sử dụng chấ kháng sinh, chất tăng trọng, sự tuân thủ các nguyên tắc  an toàn hay hữu cơ...).

 Các lầm tưởng  của người tiêu dùng và người chăn nuôi về ý nghĩa của các Chứng nhận này chủ yếu do chưa đọc kỹ

Ảnh: Chứng nhận  sử dụng sản phẩm vi sinh chính hãng (authenticity) và tính xanh (green)  về mặt môi trường của một tổ chức cung cấp chế phẩm vi sinh không phải là chứng nhận về tính an toàn hay hữu cơ cho sản phẩm chăn nuôi

Các loại thịt, trứng được quảng bá là sản phẩm chăn nuôi bằng Giun quế, tảo....thực sự là gì? Tính an toàn hay hữu cơ của các sản phẩm chăn nuôi này như thế nào?
  1. Thịt "Giun quế, tảo,.." có bảo chứng cho tính an toàn, tính hữu cơ?

Trả lời: KHÔNg

Việc bổ sung các loại thức ăn này hay cho dù dưới bất cứ tên gọi nào cũng chỉ  tác động vào  cơ cấu thức ăn (khâu dinh dưỡng) cho vật nuôi và chỉ được coi là một giải pháp xanh đơn lẻ. Nếu thiếu đi các  thực hành chăn nuôi an toàn tại các khâu quan trọng khác  của toàn bộ quy trình chăn nuôi (thú y phòng bệnh, môi trường , phúc lợi vật nuôi..) đều không thể khẳng định được tính an toàn hay hữu cơ củas ản phẩm cuối cùng.

Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, khác với các hình ảnh và thông tin được quảng bá, người tiêu dùng không thể biết được vật nuôi có thực sự được sử dụng những thức ăn này hay không? nếu có thì liều lượng và tần suất là bao nhiêu? Có đáp ứng đủ nhu cầu đạm cho vật nuôi?   Giun có được nuôi từ nguồn phân đảm bảo (không nhiễm kim loại nặng do ô nhiễm đất và nước gây tích lũy vào cỏ và thực vật làm thức ăn của động vật cho phân?), chất lượng và tính an toàn của các nguồn thức ăn khác là như thế nào? (nguồn đạm nào đang được cung cấp ngoài giun quế?  Ốc hay rong tảo...được bắt hay mua gom  ở cánh đồng có nhiễm thuốc trừ sâu, vùng ô nhiễm nước thải và kim loại nặng  hay không? các nhóm dinh dưỡng khác đến từ các nguồn nào?)  Các thông tin đa phần là do cơ sở chăn nuôi tự cung cấp với các đối tác  truyền thông/PR mà thiếu sự giám sát/chứng nhận của tổ chức chuyên môn.

Do không có quy định cụ thể và chịu sự giám sát chặt chẽ, rất nhiều sản phẩm chăn nuôi  vẫn thoải mái tự phong, dán nhãn "giun quế, tảo..." và được bày bán tại các điểm kinh doanh. Tên gọi "giun quế"  mang tính mới lạ đối đối với nhiều người chăn nuôi mới và người tiêu dùng chưa hiểu biết do đó dễ được lồng ghép với hàm ý sạch hay hữu cơ trong các quảng bá marketting sản phẩm.

  1. Sản phẩm có bổ dưỡng hơn?

Trả lời: Tùy thuộc vào chế độ dinh dưỡng của vật nuôi được  so sánh

Khác với các loại dược thảo vốn chủ yếu cung cấp dược chất  nhưng nghèo dinh dưỡng (chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị một số bệnh và do đó mang tính "thuốc"), nhóm này được xem là nguồn cung cấp dinh dưỡng và do đó thuộc nhóm "thức ăn" chăn nuôi.  Tuy nhiên, nhiều quảng bá đang cố tình nhấn mạnh những đặc tính "quý giá" của các loại thức ăn này như một sự khác biệt để làm thương hiệu  và "làm giá" sản phẩm hay cố gắng thể hiện tính xanh/hữu cơ của mô hình chăn nuôi mà lược  đi một chân lý mang tính khoa học rằng: mỗi loại thức ăn trong tự nhiên đều có những ưu điểm và thiếu khuyết riêng  và  không có loại thức ăn nào là không thể được thay thế bằng một hay nhiều loại khác có cùng tác dụng. Không loại thức ăn nào có thể được sử dụng một mình mà không đòi hỏi phải có sự bổ sung đa dạng để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng.

Với giun quế (hay còn gọi giun đỏ -Perionyx excavatus ), sở dĩ có khá nhiều thông tin về sinh vật này trong chăn nuôi hiện nay chủ yếu là do chúng  dễ được nhân nuôi và cho sản lượng khá. Sử dụng giun quế trong chăn nuôi có  ưu điểm về tận dụng chất thải tại chỗ tạo thêm nguồn thức ăn bổ sung đạm cho vật nuôi (tận dụng nguồn phân, bã thực vật tại địa phương). Tuy nhiên, nhiều quảng bá sản phẩm chỉ  cố ý nêu bật hàm lượng một số dưỡng chất của giun quế và đặt cạnh các đối chứng so sánh khác có giá trị thấp hơn như để minh họa cho sự "quý giá"  và tính ưu việt mà lại cố tình lược đi các cứ liệu khoa học rằng  giun quế cũng chỉ tương đương  đa phần các loại giun khác về hàm lượng dinh dưỡng (chủ yếu là đạm/protein) nhưng lại thấp hơn khi so với nhiều loại côn trùng và động vật thân mềm hay chỉ tương đương với cá. Một số quảng cáo còn cố tình nêu bật  hàm lượng protein trong giun quế lên tới gần 70% nhưng thực ra đó chỉ là tính trên trọng lượng khô  mà không chỉ ra tỷ lệ lớn nhất chiếm tới 80-85% trọng lượng sống của sinh vật này chỉ là...nước-cao hơn nhiều sinh vật khác!  Bên cạnh đó, nhiều đối chứng so sánh có lượng đạm  thấp hơn giun quế nhưng lại có hàm lương các vi chất quý khác cao hơn nhiều như kẽm, selen, omega 3... VD:trong côn trùng, hạt lanh hay cây họ đậu. Tương tự, các loại  thực vật (rau tươi, bèo...)  khi dùng ở dạng tươi còn giàu vitamin và khoáng  hơn nhiều lần so với giun quế. Ngoài ra, trong chăn nuôi, không phải thức ăn cứ có hàm lượng đạm hay axit amin cao hơn là vật nuôi có chất lượng thịt tốt hơn vì mức hấp thụ tối đa hàng ngày của cơ thể là có giới hạn. Hàm lượng cao thì phải giảm  dung lượng nạp vào, ngược lại, thức ăn ít đạm hơn thì dễ dàng tăng dung lượng để đạt giá trị dinh dưỡng như nhau. Cơ cấu thức ăn đa dạng các  loại đậu đỗ, cá tép...hoàn toàn cung cấp đủ lượng  đạm cần thiết cho vật nuôi trong khi có đa dạng các loại chất khác không tìm thấy trong giun quế.

Trái với nhiều nội dung quảng cáo, không có bất cứ  cơ sở khoa học nào chứng minh rằng con lợn/gà thời nay được "tẩm bổ" bằng giun quế nên  "bổ dưỡng" hơn những con lợn/gà trước đây được nuôi bằng các nguồn đạm tự đánh bắt và  thức ăn xanh, thức ăn tự nhiên khác như các thông tin PR nhằm "thăng hạng" cho sản phẩm của một số cơ sở chăn nuôi.  Đó là chưa kể tới một thực tế là, khác với gia cầm, để   tránh rủi ro gây tiêu chảy cho lợn, hay gia súc người ta thường dùng giun quế ở dạng sấy khô hoặc đun chín  và phần lớn lượng vitamin trong giun đã mất đi do nhiệt. Người chăn nuôi thường vẫn phải bổ sung vitamin cho vật nuôi bằng các nguồn thức ăn khác khoặc từ các chế phẩm tổng hợp công nghiệp. Đây là nội dung thường được ẩn đi trong các quảng bá sản phẩm "thịt giun quế"  của nhiều cơ sở hay điểm kinh doanh.

Tương tự, ốc bươu được sử dụng trong chăn nuôi chủ yếu như một nguồn tại chỗ cung cấp bổ sung can xi (và một phần lượng đạm nhât định) khi thiếu hụt các nguồn cung cấp can xi tự nhiên chất lượng cao như bột vỏ sò hay xương cá biển. Tuy nhiên, không phải tất cả ốc bươu đều là sạch. Để sản phẩm chăn nuôi đảm bảo an toàn thì ốc bươu phải được bắt ở những vùng không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, không bị nhiễm kim loại nặng từ nước thải... chứ không phải mua gom một cách tuỳ tiện rồi quay clip quảng cáo tới người dùng.

Hàng loạt các quảng bá về nhóm thức ăn "hảo hạng" khác như rong rêu từ biển hay thậm chí là ... sâm núi, sâm đất (!) với hàng loạt "tinh chất" quý cũng vậy. Chúng chỉ mang lại sự khác biệt khi cơ thể vật nuôi thiếu những chất đó do cơ cấu thức ăn bất hợp lý, thiếu cân bằng. Còn khi so với các sản phẩm chăn nuôi từ vật nuôi được chăm sóc đầy đủ bởi một cơ cấu thức  ăn lành mạnh,  việc nhấn mạnh vào các loại thức ăn "hảo hạng" như vừa  đề cập  để nêu bật sự khác biệt về chất lượng thịt/trứng...đơn giản chỉ mang tính quảng bá (PR), tạo điểm nhấn bán hàng mà không có cơ sở khoa học hay thực tế nào.

Cơ thể sống là một cỗ máy kỳ diệu, luôn chuyển hoá đào thải các chất làm mất cân bằng hệ thống mà mẹ tự nhiên đã "quy định" trong gen để tạo sự khoẻ mạnh tự nhiên cho mỗi giống loài.
Khi đã đạt tới trạng thái khoẻ mạnh và cân bằng đó, mọi cố gắng "nhồi nhét" để cơ thể "tích trữ" thêm chất X, chất Y, từ các loại thức ăn được quảng bá là hảo hạng đều vô ích do các chất đó đều sẽ bị chuyển hoá và đào thải tự nhiên (qua gan, thận, mồ hôi...) hoặc nếu tích trữ lại sẽ sinh ra bệnh tật hoặc độc tố khi sự chuyển hoá bị suy yếu hay đình trệ.
--Nguồn: OGAF-các hướng dẫn thực hành xanh 2018--

Tham khảo: Một số cơ sở chỉ với vài trăm m2 nuôi giun quế (khó đạt sản lượng vượt quá 15 kg giun khô/ngày) trong khi thực tế mỗi ngày xuất xưởng  hàng trăm kg thịt lợn cho các cửa hàng  hay  điểm kinh doanh nhưng lại LUÔN quảng cáo KHÔNG phải dùng tới các nguồn cung cấp đạm  khác hay từ thức ăn công nghiệp thì rât phi lý mà không phải người  chăn nuôi hay tiêu dùng nào cũng nhận  biết được nên đã có những thắc mắc trong  suốt thời gian qua.

Các loại thịt, trứng được quảng bá là sản phẩm chăn nuôi bằng thảo dược... thực sự là gì? Tính an toàn hay hữu cơ của các sản phẩm chăn nuôi này như thế nào?
  1. Thảo dược có đảm bảo cho sản phẩm chăn nuôi là an toàn hay hữu cơ?

Trả lời:  KHÔNG

Nếu  thiếu các  quy trình chăn nuôi an toàn, chế độ chăm sóc vật nuôi khoa học (áp dụng cho toàn bộ các khâu),   việc bổ sung  thảo dược vào  thức ăn  cho dù với  lượng nhiều hay ít cũng không hề đảm bảo mang lại tính an toàn hay hữu cơ cho sản phẩm .

Ở nước ta, một số loại thảo dược (thực vật có dược tính) có tác dụng phòng và hỗ trợ điều trị một số bệnh, tăng sức đề kháng cho vật nuôi.  Tuy vậy, cũng giống như  các chế phẩm vi sinh EM , thảo dược không phải là thuốc phòng và trị được bách bệnh. Có nhiều loại  bệnh nếu mắc phải trên vật nuôi thì thảo dược không  hề có tác dụng điều trị mà đòi hỏi phải sử dụng kháng  sinh và các loại thuốc thú y khác. Điều này rất dễ xảy ra khi vật nuôi có chế độ nuôi  không khoa học, (dinh dưỡng thiếu cân bằng,  mật độ chăn nuôi không phù hợp, ..), môi trường nuôi  không trong lành cùng với các stress khác làm giảm sức đề kháng tự nhiên   và tăng khả năng lây nhiễm bệnh..

Ngoài ra khi sử dụng thảo dược một cách tự phát, theo phong trào,  không khoa học có thể mang lại các tác dụng tiêu cực cho sức khỏe vật nuôi  như chướng bụng, khó  tiêu, bỏng đường tiêu hóa do quá nhiều tinh dầu gừng, tỏi , hồi, quế.. .và lại cần xử lý bằng các loại thuốc thú y. Nhiều loại thảo dược không rõ nguồn gốc hay được gieo trồng, bảo quản một cách không an toàn (phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất....) hoăc  tại những vùng đất ô nhiễm cũng không đảm bảo tính an toàn hay hữu cơ cho sản phẩm chăn nuôi. Tất cả những nội dung quan trọng này thường được  "ẩn" đi trong các  quảng cáo PR  tạo độ "hot" cho thịt "thảo dược".

  1. Thịt "thảo dược" có bổ dưỡng hơn?

Trả lời:  KHÔNG -  khi so sánh với  vật nuôi đã có cùng khẩu phần ăn đáp ứng đủ nhu cầu tự nhiên (chế độ dinh dưỡng cân bằng -không thiếu chất)!

Lưu ý rằng, ngoài một số thành phần dược chất có tác dụng hỗ trợ điều trị một số bệnh ở vật nuôi, thành phần dinh dưỡng (vitamin, khoáng, protein, tinh bột...) trong đa phần các loại thảo dược nói chung là rất nghèo nàn so với các loại   thức ăn tươi có nguồn gốc thực vật (rau, củ, quả...).  Đặc biệt, khi các loại thảo dược được dùng ở dạng sao khô, nghiền nhỏ thì phần lớn lượng vitamin đã bị suy hao do nhiệt. Do đó, vật nuôi với thức ăn có trộn thảo dược không hề bổ dưỡng hơn vật nuôi thông thường như trong nhiều quảng cáo tạo độ "hot" mang hơi hướng thiên nhiên, thảo mộc cho sản phẩm.

Cũng cần lưu ý rằng, không giống như nhiều lầm tưởng, các thành phần dược chất trong thảo dược không được thấm hay ướp vào miêng thịt để mang lại các tác dụng "vượt trội" như quảng cáo mà sau khi đi vào cơ thể vật nuôi chúng sẽ  nhanh chóng bị chuyển hóa thành các chất khác và bị đào thải bởi các cơ quan như gan, thận hay qua tuyến mồ hôi.  Điều này giống như khi con người sử dụng một số loại thuốc (dược chất) dẫn đến việc cơ thể, mồ hôi, hơi thở hay nước tiểu có màu hay mùi lạ là do các chất đang được chuyển hóa và đào thải ra ngoài. Khi cơ thể  người được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng bởi cơ cấu thức ăn lành mạnh, môi trường sống trong lành, duy trì ở trạng thái khỏe mạnh thì việc  "tẩm bổ" bằng thảo dược hay sâm nhung cũng là không cần thiết và có thể phản tác dụng,  gây gánh nặng cho hệ thống chuyển hóa và bài tiết phải  cố gắng thải trừ để  duy trì trạng thái cân bằng .

Tương tự, với nuôi đã có chế độ dinh dưỡng cân bằng (không thiếu chất), dược thảo chỉ có tác dụng phòng và điều trị một số bệnh (nếu được sử dụng đúng thời điểm và liều lượng) chứ hoàn toàn không có tác dụng tăng tính bổ dưỡng cho sản phẩm chăn nuôi. Khi sản phẩm thịt, trứng... của vật nuôi có mùi lạ và được quảng cáo là do dược thảo mang lại  thì chỉ có thể  là do quá trình đào thải tự nhiên của con vật diễn ra không bình thường/ứ trệ (bệnh tật) hoặc do dư lượng các chất trung gian của quá trình chuyển hóa chưa đủ thời gian để bị tống xuất hết ra ngoài  bởi quá trình này và do đó sản phẩm mất đi tính tự nhiên. Mọi cố gắng "nhồi nhét" cho vật nuôi ăn dược thảo khác với nhu cầu tự nhiên của cơ thể  đều không những không mang lại lợi ích về dinh dưỡng mà còn gây hại cho vật nuôi và người tiêu thụ sản phẩm thịt, trứng... mà chúng mang lại.

Thịt/trứng thơm ngon và đầy đủ dưỡng chất là khi  chúng có nguồn gốc từ cơ thể của vật nuôi khoẻ mạnh với cơ cấu thức ăn tự nhiên cân bằng và  sạch, giống vật nuôi cho chất lượng thịt tốt, môi trường chăn nuôi trong lành vật nuôi không bị các stress và được tự do vận động ... chứ hoàn toàn không phải do hoa hồi, cam thảo, xô thơm, hương nhu... hay bất cứ loại dược thảo nào được quảng bá (với mục đích thương mại) như có thể "tẩm ướp"  "hương"  hay tinh chất vào thịt.  Cố gắng "nhồi nhét" cho vật nuôi ăn thảo dược hay các chất khác với nhu cầu dinh dưỡng tự nhiên của chúng với hy vọng sản phẩm chăn nuôi có mùi vị khác lạ cũng là cách chăn nuôi không tự nhiên và  đôi khi còn có cái giá phải trả về sức khoẻ của động vật và tính an toàn của sản phẩm cuối cùng .

Cơ thể sống là một cỗ máy kỳ diệu, luôn chuyển hoá đào thải các chất làm mất cân bằng hệ thống mà mẹ tự nhiên đã "quy định" trong gen để tạo sự khoẻ mạnh tự nhiên cho mỗi giống loài.
Khi đã đạt tới trạng thái khoẻ mạnh và cân bằng đó, mọi cố gắng "nhồi nhét" để cơ thể "tích trữ" thêm chất X, chất Y, từ các loại thức ăn được quảng bá là hảo hạng đều vô ích do các chất đó đều sẽ bị chuyển hoá và đào thải tự nhiên (qua gan, thận, mồ hôi...) hoặc nếu tích trữ lại sẽ sinh ra bệnh tật hoặc độc tố khi sự chuyển hoá bị suy yếu hay đình trệ.
--Nguồn: OGAF-các hướng dẫn thực hành xanh 2018--

*Thảm khảo 1: Không có bằng chứng khoa học đáng tin cậy chỉ ra sự chênh lệch giữa hàm lượng omega 3 trong trứng của gia cầm được nuôi thả tự nhiên tại những vùng có chất lượng môi trường và hệ sinh vật nền tốt (cơ cấu thức ăn xanh đa dạng và đầy đủ) so với các loại trứng công nghiệp được "nhồi" thức ăn giàu omega3 (tảo biển, hạt lanh....) như trong nhiều quảng cáo hiện nay. Sự chênh lệch này chỉ đúng với các loại trứng gia cầm nuôi công nghiệp với cơ cấu thức ăn nghèo omega 3 (vật nuôi bị thiếu chất).

Mặt khác, sự gia tăng các axit béo có hại trong thịt, trứng của gia cầm công nghiệp được "nhồi nhét" thức ăn giàu omega 3 lại đang được bàn luận trong cộng đồng khoa học, một phần do các loại gia cầm công nghiệp này có cơ thể kém khoẻ mạnh, cơ cấu thức ăn ít đa dạng, ít được vận động hơn gia cầm nuôi thả tự nhiên để quá trình chuyển hoá và đào thải tự nhiên diễn ra hiệu quả .

*Tham khảo 2:  Một số loại cá nước ngọt như trắm cỏ, chép... tại Trung Quốc, Việt Nam được cho ăn một số loại hạt để thịt "dai, giòn" hơn khi chế biến. Cho đến nay, không có bằng chứng khoa học thuyết phục về  sự thay đổi  dinh dưỡng trong thịt  của các loại cá này cũng như tác dụng có lợi/hại đối với cơ thể người khi tiêu thụ. Một số  ý kiến chuyên môn cho rằng cấu trúc collagen trong các mô cơ của cá bị thay đổi tạm thời trong thời gian sử dụng hạt đã gây  cảm nhận dai, giòn hơn  khi  chế biến . Trên thực tế, sau một thời gian sử dụng hạt, cơ thể cá sẽ đào thải hết các chất lạ và  trở lại trạng thái ban đầu (không "giòn").

Các loại thịt, trứng được quảng bá là sản phẩm chăn nuôi "dân dã" thực sự là gì? Tính an toàn hay hữu cơ của các sản phẩm chăn nuôi này như thế nào?

Các loại thịt/trứng  "dân dã" có là sạch hay hữu cơ?

Chăn nuôi dân dã là cách gọi "dân dã" của hình thức chăn nuôi chủ yếu ở quy mô nông hộ hay nhỏ lẻ trong đó vật nuôi được nuôi bằng một số nguồn phụ phẩm nông nghiệp,  phụ phẩm  chế biến, thức ăn thừa   trong sinh hoạt hàng ngày của người dân  (cơm, canh,  bã rượu, thực phẩm thừa...) hay từ hái lượm, thu hoạch trong vườn, đồi, ao... Một số vật nuôi  dân dã còn được nuôi thả tự do trong địa bàn.

Trái với các quan niệm thông thường ,  chăn nuôi dân dã không bao giờ  được coi là chăn nuôi hữu cơ nếu  nguồn hạt (thóc gạo,  ngô, khoai..)  sử dụng làm thức ăn chăn nuôi  không  hoàn toàn  từ quy trình canh tác đạt chuẩn hữu cơ. Tương tự là các loại thức ăn khác như rau cỏ hay mô thịt động vật  không  phải từ trồng trọt hay chăn nuôi hữu cơ hay không được thu hái  hoặc đánh bắt hoàn toàn từ tự nhiên, ở những nơ i có chất lượng môi trường sinh thái tốt, hoàn toàn không bị ô nhiễm. Ngoài ra tính xanh, tính hữu cơ còn phải được đánh giá toàn diện ở các khâu  quan trọng như  phòng , trị bệnh;  đảm bảo điều kiện sống của vật nuôi...

Ngày nay, do môi trường bị ô nhiễm với nhiều dạng chất thải như phân, rác/nước thải sinh hoạt và công nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ...với các tác nhân gây ô nhiễm như mầm bệnh, trứng giụn sán, kim loại nặng... nên chăn nuôi "dân dã" với hình thức nuôi thả rông hay bán chăn thả một cách tùy tiện tiềm ần nhiều nguy cơ cho người tiêu dùng khi thiếu đi các đánh giá  lựa chọn khu chăn nuôi phù hợp.

Bên cạnh đó, vì là chăn nuôi "dân dã"  nên việc chăn nuôi rất khó được kiểm soát trong toàn bộ quy trình mà chủ yếu phụ thuộc vào sự tự giác, trình độ và ý thức của  nông hộ. Cơ cấu thức ăn cho vật nuôi  chủ yếu do tính tự phát theo kiểu "có gì ăn nấy" nên có thể  bị thiếu hụt dinh dưỡng trong từng thời kỳ phát triển  làm ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi. Điều này đặc biệt đúng  đối với các giống  lợn lai ngoại  (vốn được nuôi phổ biến hiện nay  ở nông thôn) có  khả năng chịu kham khổ về dinh dưỡng  và chịu đựng biến động thời tiết kém hơ n rất nhiều so với các giống lợn thuần nội  trước đây (hiện rất ít nuôi vì nhiều mỡ, giá trị kinh tế thấp).  Khi bị bệnh, vật nuôi  "dân dã"rất dễ được điều trị tự phát bằng các loại kháng sinh hay thuốc thú y vốn dễ dàng được tìm mua. Cũng do thiếu kiến thức  và e ngại rủi ro vật nuôi chết bệnh (thua lỗ), người chăn nuôi "dân dã" có thể giết thịt vật nuôi sớm để bán khi chưa đảm bảo đủ thời gian cách ly nhằm thải trừ bớt dư lượng thuốc kháng sinh đã sử dụng và do đó tiềm ẩn rủi ro cho người tiêu dùng.

Ngoài ra, hiện nay với sự tiện dụng và sẵn có của thức ăn công nghiệp được  các mạng lưới đại lý đưa về khắp các vùng quê, thôn bản, với lợi thế cho tăng trọng nhanh, thuận tiện trong sử dụng, giá thành hạ.... thức ăn công nghiệp tổng hợp  vẫn có thể được sử dụng trong quá trình chăn nuôi "dân dã".

Tóm lại, sản phẩm "dân dã" trong thực tế  rất khó kiểm soát chât lượng. Chúng chỉ đảm bảo tính xanh, tính hữu cơ khi đã loại trừ được các rủi ro như vừa đề cập.

Sản phẩm chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi xanh phải luôn có độ dai, chắc, ngọt thịt hơn các loại hình chăn nuôi khác đúng không?

Trả lời:  KHÔNG HOÀN TOÀN CHÍNH XÁC! - (Đây là các sai lầm khá phổ biến)

Với  sự phát triển của  nhiều giải pháp chăn nuôi đa dạng  hướng tới thỏa mãn thị hiếu tiêu dùng  hiện nay, các đánh giá chủ quan về tính hữu cơ, tính xanh của sản phẩm thịt, cá  chỉ dựa trên cảm nhận  về độ dai, chắc, thơm, ngọt... trong rất nhiều trường hợp có thể đưa ra các kết  luận  sai .

Một mô hình chăn nuôi  vẫn  sử dụng thức ăn công nghiệp, và chế độ chăm sóc thú y thông thường nhưng  chọn nuôi những giống  vật nuôi cho chất lượng thịt  chắc, thơm, thời gian nuôi dài (chậm xuất chuồng), trộn thêm thức ăn xơ và  thức ăn nghèo dinh dưỡng, sử dụng một số loại thức ăn "chức năng"  làm tăng độ săn chắc của mô cơ, tăng rất rộng diện tích vận động ... sẽ làm  cho vật nuôi có thịt săn, chắc hơn so với  nhiều mô hình hữu cơ. Mặt khác, một mô hình chăn nuôi hữu cơ  chuẩn có diện tích vận động  không quá rộng (ví dụ: chỉ vừa đủ tiêu chuẩn  4m2 vườn/1 cá thể gà hữu cơ), thức ăn hữu cơ  giàu dinh dưỡng được cung cấp dồi dào và liên tục giúp vật nuôi lớn nhanh và   không được nuôi già tháng thì mô thịt/cá  hữu cơ vẫn mềm (không dai, chắc) cho dù tính hữu cơ và độ thuần sạch là rất cao, đáp ứng mọi tiêu chuẩn.  Cũng cần chú ý rằng , với cùng một  giống vật nuôi, cùng theo  chuẩn hữu cơ nhưng  đặc tính (dai, chắc, ngọt...) hoàn toàn có thể khác nhau rất nhiều  tùy theo  sự khác biêt  ở các yếu tố ảnh hưởng tại mỗi cơ sở (vd: diện tích chăn nuôi,  đặc tính dinh dưỡng của thức ăn hữu cơ, tuổi khai thác)

Sự thiếu hiểu biết  về các yếu tố  "kỹ thuật"  có ảnh hưởng  tới  tính  dai, chắc và thơm ngọt của sản phẩm chăn nuôi  hiện nay được minh họa một cách dễ hiểu như sau:

a) ảnhh hưởng của yếu tố giống vật nuôi:

Ví Dụ 1: Giống gà ta đã được lai một phần với gà chọi, gà nòi, gà  H'mông  xương đen... được nuôi thả vườn cho dù với chế độ dinh dưỡng công nghiệp  vẫn cho cảm nhận  về độ DAI, CHẮC hơn  một số giống gà ta khác được chăn nuôi xanh hay hữu cơ  .

VD2: Giống gà ri , hay lợn  bản địa (lợn ỉ, móng cái, lợn hương...) cho dù được nuôi với  thức ăn công nghiệp bổ sung xen kẽ  nhưng vẫn cho thịt THƠM, NGỌT hơn một  số giống gà hay lợn lai ngoại khác được nuôi  hữu cơ.

b) ảnh hưởng của yếu tố thời điểm xuất chuồng (độ tuổi khai thác)

Thời  gian nuôi  (tuổi vật nuôi) có ảnh hưởng lớn tới độ dai/chắc hay thơm ngọt của sản phẩm

VD1: Thời gian nuôi kéo dài thêm một vài tháng đối với lợn, gà trước khu xuất chuồng trong nhiều mô hình nuôi với thức ăn công nghiệp  sẽ  cho độ DAI/CHẮC của thịt tương đương  hoặc hơn  so với nhiều mô hình chăn nuôi hữu cơ nuôi ngắn ngày  hơn . (Ở nhiều nơi, gà ta nuôi  kiểu công nghiệp đã  đẻ vài lứa thường được coi là ngon hơn gà non và được  "gắn mác" gà "chạy đồi" hay nuôi tự nhiên vì độ dai của thịt . Trong thực tế, nuôi lâu hơn kèm theo rủi ro trải qua  nhiều  đợt điều trị kháng sinh  hơn trong suốt vòng đời )

VD2: Gà ta nuôi kiểu công nghiệp nhưng được khai thác đúng độ tuổi  tối ưu vẫn có độ NGỌT THỊT hơn hẳn gà nuôi  hữu cơ nhưng  già tháng, hoặc vừa mới trải qua một đợt  đẻ trứng liên tục (cơ thể chưa kịp hồi phục hoàn toàn-nhạt thịt).

VD3: Vật nuôi hữu cơ được khai thác  sớm (non tuổi) vẫn cho cảm nhận MỀM, NHIỀU NƯỚC KHI CHẾ BIẾN, và "KHÔNG THƠM" hơn so với  vật nuôi  ở các mô hình nuôi với thức ăn công nghiệp không lạm dụng  hoocmon tăng trưởng và được khai thác khi  già tháng.  Điều này là do cơ thể vật nuôi  non có nhiều hoocmon tăng trưởng tự nhiên (nên chưa thơm thịt)  và mô cơ  chưa chắc như vật nuôi nhiều tháng hơn.

c) ảnh hưởng của sự dồi dào dinh dưỡng

Trước đây do điều  kiện kinh tế xã hội thấp, trình độ chăn nuôi lạc hậu vật nuôi hướng xanh, hướng hữu cơ trong nông hộ thường có chế độ ăn uống kham khổ, thiếu dinh dưỡng, chậm lớn với thời gian nuôi dài , lâu đạt tới trọng lượng  khai thác nên thịt thường  săn chắc  với lớp da dày.  Ngày nay, với sự phát triển kinh tế xã hội,  nguồn thức ăn cho chăn nuôi xanh, chăn nuôi hướng hữu cơ cũng đã dồi dào hơn  hơn rất nhiều với các loại ngũ cốc, các loại  thức ăn từ động vật đánh bắt tự nhiên hay từ nuôi thả  hướng hữu cơ, các loại giun và côn trùng  với phương pháp nhân nuôi  khoa học cho sản lượng lớn.. Vật nuôi  hữu cơ/ hướng hữu cơ  trong nhiều mô hình ngày nay được cung cấp dồi dào nguồn  dinh dưỡng, vẫn có thể  lớn  nhanh "như thổi" , không thua sút so với những  loại vật nuôi với  các loại thức ăn công nghiệp không  bổ sung nhiều chất kích thích tăng trưởng .  Độ dai chắc của thịt 2 loại vật nuôi này là khó phân biệt vì chúng mềm như nhau.  Nhiều loại vật nuôi  công nghiệp "chất lượng cao" như vậy thường rất dễ được đánh đồng với vật nuôi hướng tự nhiên, hướng hữu cơ  bởi các cảm nhận dai/chắc (cho dù quá trình chăn nuôi vẫn sử dụng các  loại thuốc  hóa sinh, chế phẩm bổ sung dinh dưỡng tổng hợp nhưng có cách ly để đủ thời gian thải trừ bớt). Và ngược lại, vật nuôi hữu cơ hay hướng hữu cơ được cung cấp dinh dưỡng một cách dồi dào   nêu trên  vẫn  dễ bị xem  là được nuôi công nghiệp khi chỉ đánh giá qua  độ dai /chắc chưa cao như các mô hình chăn nuôi hữu cơ   ghèo dinh dưỡng-chậm lớn  hơn (vd: như  vật nuôi trước đây ở thời kỳ kham khổ! ) Nhiều sản phẩm thịt, cá hữu cơ ở các nước có nền chăn nuôi phát triển với  tiêu chuẩn hữu cơ cao cũng có đặc tính cơ học  rất mềm mại chứ không dai  chắc như  ở  vật nuôi  công nghiệp  già hoặc  thịt hữu cơ từ thú hoang (phải hoàn toàn vận động tự tìm kiếm thức ăn ngoài tự nhiên).

Điều này tương tự như các sai lầm  phổ biến  khi cho rằng chỉ có rau củ xác xơ  khô cứng tại miền Bắc mới là hữu cơ trong khi một số mô hình trồng rau củ đạt chuẩn hữu cơ tại Đà Lạt hay một số vùng khác có khí hậu ưu đãi hơn, chất đất phù hợp, giàu dinh dưỡng hơn, quy trình sản xuất  phân hữu cơ tiến bộ hơn , cách phòng trừ sâu bệnh bằng nhà lưới ưu việt hơn nên cho các sản phẩm rau hữu cơ chất lượng , mỡ màng , không cằn cứng xơ xác, lỗ chỗ sâu ăn, và giàu dinh dưỡng hơn lại dễ bị xem là kém hữu cơ!

d) ảnh hưởng của một số loại thức ăn "chức năng"

VD1:  Một số  mô hình nuôi cá thông thường với thức ăn công nghiệp sử dụng thêm hạt đậu tằm  vào

VD2: Ngô vàng cà rốt có thể được  cho ăn rất nhiều gần thời gian xuất chuồng của gà nuôi  với  thức ăn công nghiệp để  thịt có độ ngọt thơm và độ vàng da, mỡ  bắt mắt  hơn  so với nhiều sản phẩm gà nuôi hữu cơ không sử dụng thức ăn này.

e) ảnhh ưởng của chỉ số diện tích vận động

Vật nuôi có không gian vận động càng rộng, mô cơ càng săn chắc. Nhiều mô hình chăn nuôi  gia cầm thông thường  sử dụng thức ăn công nghiệp nhưng có diện tích vườn rất lớn, chấp nhận số lượng vật nuôi it (nuôi thưa) vẫn cho sản phẩm có thịt chắc  hơn rất nhiều s o với nhiều mô hình  nuôi hữu cơ có ít diện tích hơn, vật nuôi dày hơn.

Tương tự, cá nuôi thông thường ( với thức ăn công nghiệp , chữa trị bằng loại thuốc  thủy sản hóa học)   ở trong các ao đầm diện tích lớn  vẫn cho độ dai chắc hơn  cá nuôi hữu cơ ở các ao nuôi hay lồng bè có diện tích hạn chế hơn.

Có hay không mô hình "Nuôi bộ" gà, lợn chỉ với ngô, thóc, và rau như quảng cáo về nhiều sản phẩm thịt?

Trả lời:  Hầu như không có

Gia súc và gia cầm như  lợn, gà, chim là các loại vật nuôi ăn tạp đòi hỏi khẩu phần ăn phải được cung cấp  đủ các nhóm: năng lượng (tinh bột /đường -ngô, thóc, sắn...), đạm (vụn thịt động vật, giun, côn trùng, hạt họ đậu), và vitamin/khoáng (thực vật: rau, cỏ...).

Trong môi trường  nuôi nhốt hay bán chăn thả, vật nuôi không thể kiếm đủ các nhóm dinh dưỡng khác nhau từ tự nhiên, nếu chỉ  được cung cấp thức ăn là ngô, thóc và rau  vật nuôi  sẽ bị thiếu trầm trọng một số loại axit amin quan trọng vốn chỉ tìm thấy từ nguồn đạm động vật mà thực vật nó chung và ngô, lúa, rau củ nói riêng không tự tổng hợp được . Ngay cả các loại hạt họ đậu (lạc, đâu tương) giàu đạm thực vật nhưng cũng không có các axit amin này.   Sự thiếu hụt tất yếu sẽ sinh ra  còi cọc, bệnh tật cho vật nuôi  và nguy cơ thua lỗ.

Đa phần các cơ sở chăn nuôi hiện nay vẫn  phải bổ sung các loại axit amin này từ các chế phẩm premix công nghiệp nếu không có đủ nguồn đạm động vật . Các hỗn hợp cám công nghiệp cũng  được bổ sung các loại chế phẩm này .

Như vậy, các quảng bá như trên  là hoàn toàn không chính xác  cho lợn, gà , gia cầm nuôi nhốt hay bán chăn thả trong vườn , đồi..

Lưu ý :  Lợn , gà, nuôi thả tự do nếu chỉ được cho ăn ngô, thóc và các thức ăn từ thực vật  sẽ luôn có nhu cầu ủi, dũi, bới đất ...để tìm giun, dế, côn trùng trong tự nhiên nhằm bổ sung sự thiếu hụt các axitamin này cho cơ thể. Khi  hệ sinh  thái không cung cấp đủ (kém đa dạng sinh học),  sự thiếu hụt này  thường xuyên diễn ra, vật nuôi sẽ bị còi cọc, chậm lớn và phát sinh bệnh tật.