CÁC NGUYÊN TẮC CHÍNH

Chăn nuôi thực xanh OGAF phải tuân thủ  các nguyên tắc và yêu cầu  sau:

I. MÔI TRƯỜNG SINH THÁI PHẢI THỎA MÃN CÁC TIÊU CHÍ XANH

Các điểm nuôi thuộc OGAF phải được đặt tại các khu sinh thái có chất lượng rất cao căn cứ vào các đánh giá chi tiết, bảo đảm hỗ trợ hiệu quả cho chăn nuôi hữu cơ  xét trên 3 tiêu chí quan trọng:

(1) Môi trường tự nhiên trong lành và ổn định ( đất, không khí, nước) -không có rủi ro chịu tác động tiêu cực (ô nhiễm) từ các hoạt động công, nông nghiệp, khai khoáng, hay xói lở;

(2) Hệ sinh thái nội khu đa dạng  với năng suất sinh học (BP) lớn nhằm cung cấp đa dạng các nguồn thức ăn xanh tại chỗ cho vật nuôi  (các loại thực vật, côn trùng, động vật thân mềm, phù du...).

(3) Khu vực chăn nuôi được cách ly tốt với các khu dân cư tập trung, các hoạt động  chăn nuôi hay  kinh tế khác  bởi các chướng ngại tự nhiên như sông, hồ, đồi, rừng... để hạn chế nguồn lây nhiễm bệnh.

Các đánh giá, lựa chọn  khu sinh thái cần căn cứ vào nhiều chỉ số có liên quan về:  đặc điểm nguồn nước,  thổ nhưỡng, khí hậu, thảm  thực vật, biến thiên  nhiệt độ , sự tác động sinh thái liên vùng...

Đây cũng là thế mạnh và đặc điểm được xác định ngay từ giai đoạn xây dựng  chương trình so với các mô hình chăn nuôi  an toàn khác , giúp tránh các rủi ro đối với  vật nuôi  từ ô nhiễm môi trường  như đã từng xảy ra đối với các cơ sở nuôi cá lồng hướn hữu cơ  hay theo chuẩn VietGAP tại nhiều khu vực sông hay lòng hồ vốn đã từng  được xem là có chất lượng  nước tốt trong quá khứ  nhưng ngày nay lại kém ổn định.

Chăn nuôi thực xanh-OGAF   thụ hưởng được những lợi ích  từ chất lượng cao của hệ sinh thái nhưng phải đảm bảo hòa hợp không gây tác động tiêu cực tới môi trường nơi diễn ra các hoạt động chăn nuôi . Các nguồn chất thải được thu gom để tái sử dụng (vd: nuôi giun, làm phân hữu cơ vi sinh ...).

II. GIỐNG VẬT NUÔI PHÙ HỢP

- Ưu tiên các giống có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường  và cơ cấu thức ăn xanh sẵn có tại địa phương  nhằm giảm thiểu khả năng phát sinh bệnh tật , đảm bảo chất lượng cao cũng như tính hữu cơ của sản phẩm chăn nuôi. Không sử dụng  giống  vật nuôi biến đổi gen.

Lưu ý: Do nguồn con giống đạt chuẩn hữu cơ  tại Việt Nam  là khan hiếm,  giống vật nuôi cho CNTX-OGAF  hiện được tuyển chọn từ các cơ sở  ươm giống  chất lượng cao trong ngành chăn nuôi hoặc từ nguồn tự sinh sản tại chỗ trong các khu CNTX-OGAF . Con giống phải bảo đảm từ nguồn vật nuôi bố mẹ khỏe mạnh, không  trải qua quá trình điều trị hóa liệu  trong thời kỳ thai sản. Ưu tiên các cá thể bố,mẹ được chăn nuôi theo hướng hữu cơ, hướng tự nhiên.

III. THỨC ĂN CHĂN NUÔI XANH CÓ TÍNH HỮU CƠ CAO, TÔN TRỌNG NHU CẦU SINH TRƯỞNG TỰ NHIÊN CỦA VẬT NUÔI

- Không  sử dụng thức ăn tổng hợp  và chế phẩm bổ sung dinh dưỡng công nghiệp: Chỉ cung cấp các loại thức ăn xanh từ tự nhiên, thức ăn chế biến tại chỗ  từ  các loại hạt ngũ cốc hay  phụ phẩm nông nghiệp  (thân, lá, củ, hèm rượu..) nhưng  phải có nguồn gốc từ  canh tác hữu cơ, hướng hữu cơ , hoặc tối thiểu phải từ canh tác an toàn không sử dụng hạt biến đổi gen và có sự  kiểm soát chặt chẽ  (vd: theo GAP), các loại thực vật mọc tự nhiên  tại những khu vực không có hoạt động gây ô nhiễm (kể cả sử dụng thuốc diệt cỏ cho nông nghiệp). Tận dụng tối đa khả năng tự cung cấp thức ăn xanh của diện tích đồng cỏ, mặt nước, hay đồi rừng tại chỗ . Áp dụng các quy trình nhân nuôi thực vật, động vật thân mềm, hay côn trùng  (giun, dế, tảo, nấm...)  một cách hiệu quả  và đảm bảo tính xanh trong đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng  cân bằng của vật nuôi hữu cơ;

- Không sử dụng các nguồn ngũ cốc và thực vật biến đổi gen (GMO);

-Không sử dụng các loại thức ăn "chức năng"  (cho dù có nguồn gốc tự nhiên) - Tuyệt đối tôn trọng nhu cầu dinh dưỡng  cân bằng và sự sinh trưởng  tự nhiên của cơ thể vật nuôi.  Các loại thức ăn "chức năng" với mục đích mang lại  sự khác biệt phi tự nhiên cho  các sản phẩm thịt, trứng để đáp ứng thị hiếu  như:  các loại đậu  tằm tạo độ giòn, dai cho cá chép, trắm...  các  loại hạt có hàm lượng cartoten cao tạo thêm màu bắt mắt cho cho da, mỡ  động vật hay lòng đỏ trứng gia cầm, các loại thảo dược  mang tới mùi  vị lạ cho thịt /trứng...đều không được phép sử dụng trong Chương trình OGAF . (Đến nay, hậu quả thực sự đối với cơ thể vật nuôi của việc  sử dụng các loại thức ăn này trong cả quá trình dài vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tương tự là các tranh cãi về tác động gián tiếp của chúng tới người tiêu dùng).

- Không lạm dụng hoặc lãng phí năng lượng trong chế biến thức ăn. Ngoài sử dụng tươi trực tiếp, chỉ ưu tiên các phương pháp chế biến thân thiện với môi trường, ít tiêu tốn năng lượng giúp bảo toàn hoặc nâng cao dinh dưỡng  thức ăn như ủ chua, lên men vi sinh....

Lưu ý: Trong phạm vi Chương trình,  chấp nhận sử dụng  một số loại  hạt ngũ cốc như ngô, đậu tương, lạc (không biến đổi gen )  từ các nguồn canh tác chưa hoàn toàn đạt chuẩn hữu cơ nhưng  ít nhất  phải đạt chuẩn an toàn (GAP) hoặc canh tác hướng hữu cơ, hướng tự nhiên  do sự khan hiếm  của các nguyên liệu  đạt chuẩn hữu cơ tại Việt Nam  và trên thế giới (sản lượng thấp, giá thành quá cao và không có sẵn). Đây là một điểm khác biệt  (mang tính "giảm nhẹ") so với yêu cầu  về nguồn thức ăn  đòi hỏi  100% từ thực vật hữu cơ của các tiêu chuẩn hữu cơ như EU Organic, USDA Organic.

 (Các loại thức ăn khác  vẫn phải  từ nuôi trồng hữu cơ , hoặc tự  cung cấp  hay đánh bắt tự nhiên từ những khu vực  có chất lượng sinh thái tốt nhằm đảm bảo ở mức cao nhất tính hữu cơ và tính xanh của sản phẩm chăn nuôi .)

IV. QUẢN LÝ VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VẬT NUÔI THEO TIẾP CẬN PHÒNG NGỪA- THỰC HÀNH CHĂN NUÔI KHÔNG KHÁNG SINH

- Giảm thiểu mầm bệnh trong môi trường thông qua thực hành tốt vệ sinh chăn nuôi, duy trì khoảng cách và sự cách ly tốt với các điểm có nguy cơ phát dịch, sử dụng vi sinh vật có ích ức chế vi sinh vật có hại trong môi trường (nền chuồng, hố phân...);

- Nâng cao và duy trì tốt sức đề kháng tự nhiên của vật nuôi thông qua đảm bảo chế độ dinh dưỡng cân bằng và khoa học; sử dụng các chủng vi sinh ức chế vi khuẩn gây hại trong hệ tiêu hóa; loại bỏ các yếu tố gây stress , đảm bảo mật độ nuôi phù hợp tạo điều kiện cho vật nuôi được thoải mái  vận động trong không gian rộng rãi và thực hiện các tập tính xã hội của loài -(phúc lợi vật nuôi) ;

- Chú trọng sử dụng các loại dược thảo, các kinh nghiệm truyền thống trong trị bệnh cho vật nuôi. Vật nuôi bị bệnh không thể chữa trị bằng các giải pháp xanh cần được thải loại  khỏi khu nuôi  thuộc chương trình để cân nhắc cho các giải pháp chữa trị sinh/hóa liệu khác hoặc tiêu hủy . Vật nuôi  khỏi bệnh nhờ  hóa liệu /kháng sinh được xem như không đạt chuẩn và cần được loại ra.