Triển khai kế hoạch trao đổi thông tin về các giải pháp xanh theo nguyên tắc hữu cơ cho gia súc lớn (đại gia súc) tại các khu chăn nuôi thực xanh

Ngày 30/8/2018 Ban kỹ thuật, Chương trình OGAF đã tiến hành họp thường kỳ nhằm triển khai kế hoạch trao đổi thông tin về các giải pháp xanh trong canh tác cỏ hữu cơ phục vụ chăn nuôi gia súc lớn  cho cán bộ kỹ thuật tại các khu chăn nuôi thực xanh thuộc Chương trình.

Nội dung chủ yếu của buổi làm việc là nhằm thống nhất kế hoạch và nội dung tập huấn cho các khu chăn nuôi nhằm nâng cao chất lượng các thực hành xanh tuân thủ các nguyên tắc hữu cơ quan trọng cũng như  quy trình hóa quá trình tham gia của Ban quản lý trong phối hợp thực hiện tiểu dự án cả với vai trò tham vấn và giám sát kỹ thuật. Các khu chăn nuôi sẽ chủ động đề xuất các giải pháp về nhân sự, chuyên gia phụ trách các công việc có liên quan để tham gia tập huấn trong thời gian sắp tới.

Tại buổi trao đổi, một số nội dung thực hành tăng cường gắn kết các hoạt động chăn nuôi hữu cơ với công tác bảo tồn hiện trạng môi trường tự nhiên trong các vùng sinh thái cũng được đề cập.

Áp dụng các tiêu chí xanh trong khảo sát một số vùng nuôi thả tự nhiên.

Trong tháng 7/2018, 3  nhóm chuyên gia của OGAF đã tham gia đoàn công tác khảo sát đánh giá lựa chọn các vùng nuôi thả tự nhiên cho gia súc và gia cầm thuộc các Dự án trực thuộc. .

Các ý kiến  chuyên môn trong xây dựng và đánh giá các quy trình/ tiêu chí  áp dụng tại các vùng nuôi thả cũng được thảo luận kỹ hơn trong đợt công tác này.

Các tiêu chuẩn/quy trình chăn nuôi an toàn, chăn nuôi hữu cơ trong nước hiện nay như VietGAP/VietGAHP hay Hữu cơ Việt Nam đã được xem xét một cách kỹ lưỡng để đánh giá những hạn chế trong thực tiễn triển khai áp dụng trong suốt những năm vừa qua. Bộ tài liệu về các tiêu chuẩn và thực hành chăn nuôi sạch/an toàn trong khu vực và trên thế giới như GlobalGAp, USDA organic, EU Organic, hay các chương trình nuôi thả gia cầm trên cao nguyên nội mông Trung Quốc cũng được xem xét kỹ lưỡng bởi các nhà chuyên môn nhằm so sánh, đối chiếu với các điều kiện tại Việt Nam qua đó đúc rút kinh nghiệm và bài học nhằm phát triển các tiêu chí đánh giá, lựa chọn các khu nuôi thả. Yếu tố chất lương môi trường sinh thái cũng đặc biệt được coi trọng nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, giảm thiểu các tác động tiêu cực từ hoạt động chăn nuôi cũng như đảm bảo tính hữu cơ của sản phẩm.

Các nhóm công tác đã tiến hành lấy mẫu và đánh giá các chỉ số môi trường như đất, nước, tiểu khí hậu và mức đa dạng của hệ sinh vật nền tại các khu vực khảo sát.

Đánh giá hiệu quả các khu nhân nuôi giun từ nguồn phân và phụ phẩm hữu cơ

Ngày 1/7/2018, tại khu Chăn nuôi số 2 đã tổ chức buổi đánh giá hiệu quả hoạt động của khu nhân nuôi giun làm thức ăn cho vật nuôi hữu cơ.

Được lên kế hoạch xây dựng từ ngay giai đoạn đầu xây dựng Chương trình, các khu nhân nuôi giun được xem như một mắt xích quan trọng trong chuỗi các hợp phần bổ trợ của hoạt động chăn nuôi thực xanh. Phần lớn các khu nuôi có quy mô diện tích vừa và nhỏ nhưng luôn đề cao tính hiệu quả thông qua các thực hành nhân nuôi đúng đắn và khoa học. Từ giống giun, chất lượng lớp nền đến thiết kế khay/dãy nuôi đều được lựa chọn từ những nguồn đảm bảo và bố trí sắp xếp linh hoạt.

Giai đoạn đầu đã nuôi song song hai nhóm giun chính là giun đất tại địa phương và giun quế (giun đỏ) nhằm làm cơ sở đối chứng và cũng nhằm đảm bảo luôn duy trì nguồn giun trong mọi trường hợp (do giun đất có sức chống chịu cao hơn với mọi điều kiện biến thiên khí hậu vùng rừng núi). Bên cạnh nguồn phân gia súc tại chỗ, các loại phụ phẩm như thân lá và bã xác thực vật của quá trình canh tác hữu cơ và hướng hữu cơ cũng được tận dụng làm chất nền. Quá trình ủ, xử lý chất nền là ủ hỗn hợp: ủ nóng và ủ nguội

Buổi đánh giá đã tập trung xem xét các nội dung và tiêu chí

  • Tỷ lệ xử lý phân đầu vào.
  • Tốc độ gia tăng sinh khối trung bình
  • Khả năng đáp ứng của nguồn chất nền hữu cơ tại chỗ (phân, thân lá thực vật)
  • Hiệu quả trong việc sử dụng nguồn phân giun sau nhân nuôi đối với cây trồng hữu cơ (chủ yếu là cỏ cho đại gia súc và một số loại rau cho gà)
  • Khả năng mở rộng, tăng khối lượng giun nuôi

Các kết quả đánh giá sẽ được thảo luận nhằm tiếp tục cải thiện quy trình nhân nuôi.

OGAF tổ chức tham quan giới thiệu đặc điểm mô hình chăn nuôi sử dụng vi sinh hữu hiệu (EM).

Ngày 20/6/2018, văn phòng quản lý OGAF  đã tổ chức  buổi tham quan nhằm giới thiệu một số mô hình chăn nuôi sử dụng chế phẩm EM tại Việt Nam. Buổi giới thiệu cũng nhằm giải đáp các thắc mắc về chất lượng một số sản phẩm chăn nuôi có sử dụng EM ở Việt Nam cho các đối tượng tham gia.

Ông Ngyễn Thái Sơn, trưởng bộ phận kỹ thuật OGAF cho biết: EM (Effective Microorganisms) là tập hợp các vi sinh vật hữu hiệu. Chế phẩm này đã được sử dụng trong một khoảng thời gian tương đối dài trên thế giới. Tại Việt Nam, chế phẩm cũng có phạm vi ứng dụng tương đối rộng từ trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh môi trường… và đã trở nên khá quen thuộc với nhiều chủ cơ sở.

Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, đặc biệt là tại các cơ sở có không gian nhỏ, hình thức chăn nuôi chủ yếu là quây nhốt mật độ cao, chế phẩm EM tỏ ra khá hữu hiệu trong việc giảm mùi hôi, hạn chế ô nhiễm nền chuồng, giảm phát sinh một số bệnh do tải lượng phân thải của gia súc gia cầm cao trên một đơn vị diện tích dễ gây bệnh cho vật nuôi.

Phương pháp sử dụng chế phẩm cũng rất đơn giản, chủ yếu là phun bề mặt hoặc phối trộn với những vật liệu lót độn nền chuồng như vỏ trấu, mùn cưa…tạo thành lớp lót sinh học.

Trong hỗ trợ tiêu hóa và kết hợp trị bệnh cho vật nuôi, EM có thể được phối trộn vào thức ăn giúp cải thiện khả năng tiêu hóa, giảm bệnh tật cho gia súc, gia cầm.

Tuy vậy, cần nhận thức rõ rằng: chế phẩm EM hiện nay là khá phổ biến, hoàn toàn không khó tiếp cận như trong quá khứ, người chăn nuôi hoàn toàn có thể tự mua men giống và pha chế nhân nuôi được. Việc sử dụng EM chỉ mang ý nghĩa bổ trợ, hoàn toàn không có nghĩa là bảo đảm cho ra các sản phẩm chăn nuôi sạch nếu thiếu đi một quy trình bảo đảm và các tiêu chí chăn nuôi khoa học, đặc biệt là ở điều kiện chăn nuôi công nghiệp quây nhốt và phải bổ sung dinh dưỡng cho vật nuôi từ nguồn thức ăn do con người cung cấp.

Một số cơ sở chăn nuôi hiện nay đã liên hệ và mua một số chủng men EM cung cấp bởi một số công ty hay tổ chức của nước ngoài và có “chứng nhận” về việc sử dụng sản phẩm chính hãng của họ. Tuy nhiên “chứng nhận” này chỉ có ý nghĩa xác nhận rằng cơ sở đó sử dụng chế phẩm EM của nhà cung cấp đó (Certificate of Authenticity), hoàn toàn không có ý nghĩa chứng nhận sản phẩm chăn nuôi là an toàn hay hữu cơ như một số trang trại đang tự giới thiệu. Đây là một số điểm đáng chú ý hiện nay đối với việc cung cấp thông tin tới người chăn nuôi.

OGAF thăm và khảo sát các vùng sinh thái phù hợp cho phát triển các Khu chăn nuôi thực xanh

Ngày 14/5/2018  nhóm công tác của Chương trình OGAF đã có chuyến thăm và khảo sát tại  một số vùng sinh thái được đánh giá là phù hợp cho phát triển các mô hình khu chăn nuôi thực xanh tại các địa bàn đã tham gia Dự án phát triển chăn nuôi tại vùng cao Tây Bắc Việt Nam (PALD) do tổ chức nông nghiệp và thú y không biên giới (AVSF) thực hiện với sự quản lý của Viện chăn nuôi quốc gia.

Các vùng khảo sát lần này bao gồm vùng lân cận rừng quốc gia Xuân Sơn của huyện Tân Sơn, Phú thọ; một số địa điểm thuộc Tỉnh Yên Bái.

Đại diện của đoàn đã thăm và nghe bộ phận kỹ thuật báo cáo các đánh giá lựa chọn cũng như tìm hiểu về hiện trạng đặc điểm môi trường sinh thái cũng như mức đa dạng của hệ động thực vật trong các khu.

Tại huyện Tân Sơn, Tỉnh Phú Thọ, đại diện đoàn cũng đã trao đổi với  TS. Bui Khánh chủ tịch  Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh Phú Thọ về các nội dung có liên quan tới sự tác động tương hỗ giữa chăn nuôi hướng tự nhiên, hướng hữu cơ và hiện trạng môi trường.

Các kết quả đánh giá sẽ được sàng lọc ở các bước cuối cùng trước khi chính thức lựa chọn các khu chăn nuôi để triển khai các thực hành chăn nuôi xanh với nguyên tắc hữu cơ.

Đánh giá mức đa dạng của hệ sinh vật nền trong các Khu sinh thái

Nhằm xác định khả năng cung cấp các nguồn thức ăn từ tự nhiên (thực vật, côn trùng và động vật thân mềm) cho vật nuôi cận hữu cơ từ các khu nuôi thả, Ban kỹ thuật của OGAF đã tổ chức đợt đánh giá lại mức độ đa dạng của hệ sinh vật nền tại các khu nuôi thả G02 và B01.

Đợt đánh giá còn là dịp tìm hiểu khả năng tự phục hồi của hệ sinh vật nền sau quá trình nuôi thả cũng như sau các biến động của thời tiết (chuyển mùa). Thông qua đợt đánh giá, đã ghi nhận sự phục hồi tốt của thảm thực vật cũng như hệ sinh vật đất. Đây cũng là các nhân tố chủ yếu giúp quá trình tự làm sạch diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn, chuyển đổi các dạng hữu cơ thành sinh khối hữu ích, giảm mầm bệnh trong môi trường.

Từ tháng 10/2017, các hoạt động đánh giá và đánh giá lại liên tục được diễn ra nhằm đảm bảo chất lượng của các khu nuôi thả xanh luôn ở mức độ tốt nhất, hoạt động chăn nuôi được hưởng lợi nhưng phải cân bằng, không gây ra các tác động xấu tới môi trường. Tính xanh, tính hữu cơ luôn được đề cao trong tổng hòa của hệ sinh thái nông nghiệp. Một số giải pháp xanh như bổ sung phân hữu cơ, bổ sung sinh khối giun, dẫn dòng nước sạch… cũng dược giới thiệu nhằm áp dụng trong trung và dài hạn giúp tăng độ màu mỡ của đất đai, tăng độ hoạt động của các sinh vật đất và qua đó mang lại sức sống và năng suất sinh khối cao hơn cho thực vật trên bề mặt.

Đợt đánh giá còn có sự tham gia của các chuyên gia từ hội bảo vệ thiên nhiên, môi trường của địa phương.

Tham quan và giới thiệu quy trình ủ chua thức ăn xanh cho vật nuôi

Ủ chua  (lên men) thức ăn xanh cho vật nuôi được xem là một giải pháp hữu ích trong dự trữ thức ăn cho vật nuôi hữu cơ, đặc biệt ở những giai đoạn khắc nghiệt của thời tiết. Nguồn thức ăn thô xanh có thể được ủ bao gồm thân lá của cây lương thực và thực phẩm (ngô, lúa, khoai, sắn, đậu…) và các loại cỏ cho gia súc. Thức ăn đem ủ nhờ lên men yếm khí sẽ hạn chế hư hỏng do oxy hóa bởi vi khuẩn. Thức ăn ủ chua với các loại vi sinh vật hữu ích sẽ đảm bảo ức chế các loại vi sinh vật có hại đồng thời tăng độ ngon miệng và khả năng hấp thu dinh dưỡng cho vật nuôi. Lên men thức ăn xanh cũng được coi là một thực hành xanh quan trọng trong chăn nuôi hữu cơ.

Ngày 28/4/2018 tại khu chăn nuôi gia súc B01, ban kỹ thuật của OGAF đã tổ chức giới thiệu quy trình ủ chua thức ăn xanh cho một số đại diện trang trại chăn nuôi đến học tập. Tại các buổi giới thiệu, người tham quan đã được hướng dẫn về các nguyên tắc sơ chế, hạ độ ẩm, phối trộn thành phần, bao gói và làm quen với chủng vi sinh phù hợp. Nguồn cỏ và thân lá thực vật từ các quy trình canh tác hữu cơ hoặc hướng hữu cơ đem đi ủ chua sẽ cho tỷ lệ thành công rất cao do không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hay phân hóa học, độ ẩm trong thân lá là ổn định.

Bên cạnh nguồn thức ăn xanh tại chỗ, quy trình thực hành ủ chua thức ăn thô xanh và thức ăn tinh cho vật nuôi đã góp phần gia tăng chất lượng nguồn thức ăn xanh với tính hữu cơ rất cao cho các khu chăn nuôi thực xanh OGAF.

Hướng dẫn thực hành quy trình trồng cỏ hữu cơ cho gia súc lớn tại khu nuôi B01

Nhằm gia tăng nguồn thức ăn xanh tại chỗ cho đại gia súc cũng như các loại vật nuôi trong các khu CNTX thuộc OGAF, ngoài cỏ mọc tự nhiên tại các khu chăn thả, việc trồng các loại cỏ hữu cơ được xem là một giải pháp quan trọng, đặc biệt là có thể tồn trữ trong mùa đông giá thông qua các biện pháp ủ xanh.

Từ tháng 1/2018 việc đánh giá các khu trồng trọt và chọn giống cỏ phù hợp đã được Ban kỹ thuật của OGAF tư vấn cho quản lý các khu chăn nuôi để cùng tiến hành lựa chọn và thực hiện theo kế hoạch.

Về giống cỏ, sau khi đã xem xét và đánh giá các đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu và yêu cầu về dinh dưỡng, OGAF quyết định chọn giống cỏ xả lá lớn bởi có các ưu điểm sau: sinh trưởng nhanh, năng suất cao, hàm lượng dinh dưỡng lớn nhất trong các giống cỏ đối chứng. Cỏ có thể sinh sống tại những khu vực có khí hậu lạnh giá, chịu được bóng râm nên có thể xen canh dưới tán cây đồi rừng, cây ăn quả, chịu được hạn hán và kháng sâu bệnh rất tốt. Bên cạnh đó, cỏ dễ thu hoạch và vật nuôi ham ăn do lá mềm, không có lông, vị ngọt dịu, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn so với cỏ voi và cỏ VA06. Bò, ngựa và cá trắm cỏ đặc biệt ham ăn loại cỏ này.

Để đảm bảo quy trình canh tác có tính hữu cơ cao, các khu trồng trọt sẽ không sử dụng phân hóa học và thuốc BVTV mà chỉ sử dụng nguồn phân hữu cơ do chăn nuôi tại chỗ hoặc phân vi sinh từ những nguồn được đánh giá cẩn thận. Phân tươi được ngâm ủ hoai mục hoặc sử dụng nuôi giun trước khi đem tưới bón cho đất trồng cỏ.

Đặc biệt, diện tích đất trồng cỏ chủ yếu là các khu đồi rừng trước đây để hoang hóa hay trồng cây tạp nên không bị nhiễm thuốc diệt cỏ, thuốc BVTV hay phân hóa học từ quá trình canh tác các loại cây trồng trong quá khứ. Về thực chất, các diện tích đất trồng này có thể đạt mọi tiêu chí hữu cơ nếu có các đánh giá đầy đủ.

Định kỳ đánh giá chất lượng nước tại các khu lồng bè nuôi cá nước ngọt thuộc OGAF

Từ ngày 1/3 đến 5/3/2018 khu lồng bè nuôi cá nước ngọt thuộc OGAF đã tiến hành lấy mẫu nước định kỳ nhằm đánh giá tác động môi trường từ hoạt độngnuôi thả.

Mặc dù các điểm nuôi cá thuộc OGAF được lựa chọn với tiêu chuẩn rất cao về chấ lượng nguồn nước cũng như khả năng chịu tác động của các nguy cơ gây ô nhiễm là rất nhỏ so với các mô hình nuôi an toàn hay hướng hữu cơ thông thường trên sông hồ nhưng việc định kỳ quan trắc chất lượng nước vẫn được đặt ra một cách bắt buộc để bảo đảm sự cân bằng của môi trường nước đối với tác động từ hoạt động chăn nuôi. Nói cách khác, các lồng bè nuôi thuộc OGAF phải đảm bảo không có tác động tiêu cực tới môi trường nước.

Để thực hiện được điều này, ngoài đặc điểm thủy động tốt của dòng chảy, chất lượng nước mặt ổn định, quy trình nuôi cá phải được tiến hành một cách rất khoa học, lành mạnh với các thức ăn từ tự nhiên để cá khỏe mạn, phàm ăn và hầu như không có thức ăn thừa (đủ về lượng) dễ lên men thối.

Các chỉ tiêu quan trắc bao gồm hàm lượng oxy hòa tan, chỉ số cặn lơ lửng, các chỉ tiêu vi sinh tại các điểm nhạy cảm trong khu nuôi (giữa lồng nuôi sát đáy, giữa lồng nuôi lưng chừng, cuối lồng nuôi sát đáy và cuối lồng nuôi lưng chừng –theo hướng dòng chảy)

Kết quả quan trắc sẽ được phân tích, đánh giá để làm cơ sở điều chỉnh quy trình nuôi giúp liên tục duy trì chất lượng tốt và ổn định của môi trường nước nội vi khu nuôi cũng như làm căn cứ so sánh với chất lượng nước ngoại vi. Đây là điều hết sức cần thiết trong nuôi cá lồng bè cận hữu cơ và hữu cơ.

Xây dựng bổ sung đợt 2 các khu nuôi giun quế (giun đỏ) xử lý phân trong khu XNTX –OGAF

Các khu nuôi giun đỏ là nơi diễn ra các thực hành xanh trong quá trình xử lý phân thải theo hướng “tái sử dụng” nhằm thu hồi dinh dưỡng thông qua tác nhân sinh học (giun đỏ/giun quế).

Ngay từ khi mới triển khai Chương trình, việc xây dựng các khu vực riêng cho tái sử dụng phân chuồng để nuôi giun đã được đặt ra trong các khu chăn nuôi được lựa chọn. Các thực hành xanh trong nuôi giun đỏ có thể kể đến như:

  • Thực hành xây dựng chuồng trại (đảm bảo độ thoáng mát nhưng phải có che chắn, độ sạch và trung tính của nước tưới, xử lý nền chuồng hợp lý và khoa học)
  • Chuẩn bị dụng cụ nuôi (dụng cụ xới nhẹ, tấm che phủ từ thực vật, dụng cụ tưới hoa sen…)
  • Chuẩn bị chất nền, chất độn (đánh giá nguồn phân, chất độn từ rơm rạ, rau cỏ và phụ phẩm nông nghiệp, các phương pháp ủ, loại amoniac trong nước tiểu gia súc)
  • Chuẩn bị thả sinh khối giun vào luống nuôi
  • Chăm sóc, cho ăn và duy trì độ ẩm
  • Nhận biết dấu hiệu bất thường, phòng bệnh và xử lý giun bệnh
  • Thu hoạch, bảo quản và sử dụng giun

Để tăng cao tính hiệu quả trong nhân nuôi giun quế, OGAF đã sử dụng thêm một số chủng men vi sinh để tăng hiệu quả quá trình ủ phân và chất độn từ thực vật. Điều này làm tăng sinh khối và sức sống cho giun trong các luống nuôi một cách rõ rệt.

Hiện nay, giun đỏ/giun quế đã trở thành một nguồn bổ sung dinh dưỡng tốt cho các loại vật nuôi trong các khu nuôi thuộc OGAF bên cạnh các nguồn cung cấp đạm khác .

Trong buổi đánh giá các thực hành xanh đối với sử dụng thảo dược, Ban kỹ thuật cũng đã phân tích các ưu điểm cũng như mặt còn hạn chế của sử dụng thảo dược, đồng thời khuyến nghị bổ sung một số loại thảo dược khác vào danh mục đã sử dụng.

Trong thời gian tới, các loại thảo dược có công dụng tốt vẫn sẽ tiếp tục được sưu tầm và bổ sung trong danh mục.